Bạch hầu: Căn bệnh nguy hiểm nhưng phòng bệnh chỉ cần làm việc này

Việt Báo
Theo các bác sĩ truyền nhiễm dịch bạch hầu có tỷ lệ tử vong cao vì biến chứng nguy hiểm. Tuy nhiên, việc phòng bệnh chỉ cần... tiêm vắc xin phòng bệnh.

Nguyên nhân bạch hầu

Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng nhiễm độc nguy hiểm gây ra bởi vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae. Đây là vi khuẩn hiếu khí gram dương. 
 
Khả năng tiết độc tố của C. Diphtheria là do nhiễm một loại virus có mang gen tạo độc tố (toxgene). Chỉ những dòng mang độc tố mới có thể gây bệnh nghiêm trọng.
 
Khi nhiễm bệnh, vi khuẩn tiết độc tố, ức chế tổng hợp protein, gây hủy hoại mô tại chỗ, tạo nên màng giả. Độc tố tạo ra được hấp thu vào máu và phân phối khắp cơ thể. Chính độc tố này gây ra các biến chứng viêm cơ tim, viêm dây thần kinh, giảm tiểu cầu và tiểu đạm.
 
Dòng vi khuẩn không tiết độc tố thường gây viêm họng nhẹ – trung bình, nhưng không tạo màng giả.
 
Đường lây của bệnh
 
Đường lây của bệnh bạch hầu qua đường hô hấp và tiếp xúc với giọt bắn trên bề mặt. Người bệnh ho, hắt hơi các chất tiết bắn ra và người ở gần có thể hít phải vi khuẩn qua các giọt bắn ra từ miệng người bệnh.
 
Bệnh cũng có thể lây qua đồ vật. Người khoẻ chưa được tiêm vắc xin, không có kháng thể, miễn dịch kém có thể lây nhiêm nếu sử dụng lại vật dụng của người nhiễm, uống nước từ li chưa rửa sạch của người nhiễm. Hoặc tiếp xúc gần với các vật phẩm khác mà dịch tiết chứa vi khuẩn có thể đọng lại như đồ chơi, mặt bàn…
 
Bác sĩ Trương Hữu Khanh – trưởng khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi đồng 1 cho biết, bệnh bạch hầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính. Bệnh thường tạo nên các giả mạc trắng ở vùng hầu họng.
Benh bach hau
 Bệnh bạch hầu với các dấu hiệu giả mạc vùng hầu họng, mũi 
 
Khi mắc vi khuẩn này,  thời gian ủ bệnh khoảng 2 đến 5 ngày. Khi bệnh bộc phát, người bệnh sẽ có triệu chứng như: sốt, ho, dấu hiệu của viêm họng, viêm mũi, viêm thanh quản, họng đỏ, nuốt đau. Sau đó khoảng 1- 2 ngày, màng giả xuất hiện. Màng giả ban đầu mỏng, màu trắng ngà, lan dần từ amidan đến vòm khẩu cái. Màng giả dính với niêm mạc bên dưới và phủ mặt vòm hầu họng.
 
Triệu chứng bạch hầu
 
Bệnh bạch hầu có thể xảy ra ở các vị trí khác nhau và mỗi triệu chứng bệnh nhân có dấu hiệu khác.
 
Ví dụ, bệnh bạch hầu mũi trước triệu chứng điển hình đó là bệnh nhân sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu. Người bệnh có thể nhìn thấy giả mạc trắng ở vách ngăn mũi. Bác sĩ Khanh cho biết, nếu mắc bạch hầu thể bệnh này nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.
 
Còn bạch hầu ở họng và amiđan người bệnh có triệu chứng mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ. Sau 2-3 ngày, sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng. Các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân. Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ. Các bệnh nhân này nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.
Trieu chung bach hau
Triệu chứng của bệnh bạch hầu 
 
Trường hợp biến chứng nhanh nhất đó là bệnh bạch hầu thanh quản. Triệu chứng gồm sốt, khàn giọng, ho gắt. Màng giả nhanh chóng gây tắc nghẽn đường thở, hôn mê và tử vong. Một số trường hợp có biến chứng viêm cơ tim hay viêm dây thần kinh ngoại biên. Độc tố bạch hầu cũng có thể vào máu gây nhiễm độc toàn thân và tử vong.
 
Hiện nay, tỉ lệ tử vong thông thường của người bị bệnh bạch hầu lên đến 5-10%. Ở những trẻ em dưới 5 tuổi và những người lớn tuổi, có thể tử vong tới trên 20%.
 
Bác sĩ Khanh cho biết sau khi xác định mắc bệnh bạch hầu, bệnh nhân sẽ nhanh chóng được cách ly, điều trị kháng sinh thích hợp và đeo khẩu trang khi tiếp xúc. Ngoài ra cần vệ sinh phòng ở, đồ dùng cá nhân, đồ chơi… bằng dung dịch sát khuẩn.
 
Phòng bệnh như thế nào?
 
Hiện bệnh bạch hầu chưa được loại trừ ở nước ta, do đó người dân vẫn có thể mắc bệnh nếu chưa tiêm vắc xin phòng bệnh đầy đủ và tiếp xúc với mầm bệnh. Để chủ động phòng chống bệnh bạch hầu, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

1. Đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vắc xin phối hợp phòng bệnh bạch hầu (ComBe Five hoặc DPT-VGB-Hib (SII), Td) đủ mũi tiêm và đúng lịch.

2. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.
Tiem chung phong bach hau
Tiêm chủng để phòng bệnh bạch hầu 

3. Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

4. Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

5. Người dân trong ổ dịch cần thực hiện nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc xin phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.

Lịch tiêm chủng vắc xin SII hoặc ComBe Five trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng:

Mũi 1: Tiêm khi trẻ được 2 tháng tuổi

Mũi 2: Sau mũi thứ nhất 1 tháng

Mũi 3: Sau mũi thứ hai 1 tháng

Mũi 4: Khi trẻ 18 tháng tuổi.
 
Bác sĩ Khanh cho biết có một số ít người sức đề kháng kém, sau khi tiêm phòng không tạo kháng thể đủ để bảo vệ cơ thể thì vẫn có nguy cơ bị mắc bệnh bạch hầu. Một số người tiêm phòng đã quá lâu, nồng độ kháng thể trong máu xuống thấp thì cũng có thể bị mắc bệnh bạch hầu. Chính vì vậy, mọi người nên đi tiêm phòng nhắc lại sau mỗi 10 năm. 
XEM THÊM
Tin cùng chuyên mục
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

Đọc nhiều