Thứ sáu, 11 Tháng ba 2005, 07:52 GMT+7
In

Hà Giang một chút phiêu du…

Ha Giang mot chut phieu du

Sông Lô chảy đến đoạn Hà Giang thì biến mình thành dải lụa xanh sơn nữ vắt lững lờ qua eo núi Cấm. Sông tỏa sương và núi quanh năm thở ra mây. Cái thị xã nhỏ như bàn tay ấy lúc nào cũng đẹp. Người đi không lạc vì đường sá loanh quanh mà vì mây khói mịt mù…

Ha Giang mot chut phieu du

Vượt đèo Ba Khoanh…

Trời mưa lạnh buốt. Gió đùn sương mù khiến dãy núi Mỏ Neo trước mặt lúc ẩn lúc hiện. Trong thị xã, những con đường nhỏ ẩm ướt, những tán cây trút lá trơ xương - đó là những ấn tượng của tôi về Hà Giang trong buổi sáng đầu tiên…

Đặng Thầy, anh bạn người Dao chở vợ ra chợ bán măng, trong khi chờ vợ về tranh thủ làm một cuốc xe ôm. Chẳng may gặp khách nhiễu sự, trên đoạn đường 20 km từ thị xã Hà Giang chạy vào hang Tùng Bá, tôi đã bắt anh phải nhiều lần dừng lại để… “nhồi thẻ nhớ máy ảnh”. Quá nhiều cảnh núi non hùng vĩ và những xóm làng hắt hiu dưới các đồi cọ xanh mướt…

Sự hùng vĩ của núi non Tây Bắc luôn ẩn chứa biết bao hiểm trở và luôn làm cho du khách lo sợ bất trắc. Những đoạn núi, xe phải trả số liên tục và có khi lao khùng khục, nặng nề lên từng khúc quanh gồ ghề đá. Hai bên là vách đá núi dựng ngút cao. Đèo Ba Khoanh là đây. Con đường len giữa những vách đá ngoằn ngoèo như vết rắn bò, lại vắng người đến nỗi có cảm tưởng chỉ có cuốc xe ôm rồ máy trong buổi sớm này, phá tan cơn ngái ngủ của núi rừng. Hết những khúc “khoanh” của đèo dốc, chúng tôi qua những con đường dài trên mép vực thấp.

Tại đây, thả tầm mắt có thể thấy dưới chân những dãy núi đá dựng đứng hoang sơ kia là nhà sàn chái tranh cũ kỹ của người Tày. Những ngôi nhà này vào mùa đông suốt ngày chờn vờn khói vì luôn ủ lửa nướng bắp, sưởi ấm, nấu rượu ngô… Nhà sàn nhỏ bé lọt thỏm trên những tầng ruộng bậc thang, mùa thu vàng màu lúa chín, khi đông về cứ ngổn ngang, sấp ngửa luống cày.

Không gian hùng vĩ của núi rừng, sự bao la hẻo lánh của thung lũng Tùng Bá được tô vẽ thêm nét tươi nguyên bởi những rừng cọ xanh lá xoè rộng tán, những bầy trâu, bầy heo, dê nhởn nhơ gặm cỏ dưới ruộng và âm thanh của tiếng gà gáy, trẻ con chơi đùa chốc chốc vang lên từ những mái nhà sàn. Tiếng gà gáy cũng muốn vươn xa, xoá tan đám sương mù chờn vờn vách núi ngày này qua tháng khác trầm mình trong lam sơn chướng khí…

Hang Tùng Bá, ná thở…

Tay xe ôm dừng ngoài đường, dặn tôi “vào trong ấy” nếu bị rắn rết cắn thì phải la lên để biết. Hơi rùng mình. Nhưng cái máu ưa phiêu lưu lại khiến tôi trèo lên chạc cây rồi bám mình qua vách đá, leo lên cửa hang. Sáng nay, có người đã dặn, muốn vào hang, phải mang theo đuốc thật nhiều dầu. Nhưng đề phòng, hang sâu thiếu ôxy, đuốc có thể tắt dở chừng.

Khi leo lên cửa hang và luồn qua vách đá đầu tiên, có thể hình dung đến cú ngoác miệng của một con thú hoang đã bị hoá thạch. Nếu những dải đá “thòng” trước cửa hang còn lấm tấm những hạt sáng li ti lợn cợn những vỏ ốc, sò… dấu vết của cuộc chấn động địa lý “bãi bể nương dâu” triệu triệu năm trước. Những nhũ đá trong lòng hang lại lầm lì trồi sụt, rủ xuống, chia vòng hang thành nhiều không gian khác nhau. Ánh sáng từ chiếc điện thoại di động làm cho tôi kém tự tin khi bị bủa vây bởi bóng tối.

Có ba “vòm miệng” để đi sâu vào bên trong. Cả ba đều có những đoạn hẫng “chết người”. Cho nên, khi tiến sâu vào, nguy cơ rắn rết cắn đã đáng sợ, nguy cơ bị hẫng chân, chuồi người trên đá càng đáng sợ hơn. Thỉnh thoảng, tôi lại đưa chiếc mobile lên cao và soi vào từng vân đá hai bên, hình dung đang đi giữa một thế giới tiền sử của những mặt người mang hình dong nguyên thuỷ. Càng vào sâu, không khí càng ngột ngạt và rùng rợn. Mùi của rêu, mùi của lá mục và chính bước chân mình vọng lên dội qua các vách đá cũng có thể làm rợn tóc gáy người yếu bóng vía.

Hang Tùng Bá ăn sâu vào núi khoảng gần 200m. So với những hang động khác ở Hà Giang được nhiều người biết đến như: Phương Thiện, hang Dơi, hang Làng Lò, hang Chi (cách thị xã Hà Giang 7 km, về phía nam) và động Én ở Yên Minh (cách thị xã 60 km) thì hang Tùng Bá có thể nói là còn hoang sơ và ít dấu chân người nhất vì sự hiểm trở của nó và vì nó mới được “khám phᔠdo nhiều người dân tộc nghèo, đi đào đá ra chợ bán. Gần đây, hoạt động đào bới đá bị nghiêm cấm, Tùng Bá bắt đầu rải rác có những bước chân đầu tiên của du khách phương xa. Tuy nhiên, sự hoang dã và những hiểm nguy rình rập cũng dễ khiến cho nhiều người đến nhưng không có gan đi sâu vào bên trong khám phá.

Một mình với chiếc mobile, tôi đã luẩn quẩn trong hang cho đến khi tiếng còi xe ôm của anh bạn người Dao bíp liên hồi từ dưới lòng thung Tùng Bá vọng lên…

Hồ Noong, bài thơ sơn cước

Buổi chiều hôm đó, theo hướng đi vòng sau núi Cấm, tôi lại ngoắt xe ôm chạy vào vùng hồ Noong qua con đường 15 km có vài đoạn còn sình lầy. Hai bên đường, những bản người Dao có vẻ đông vui hơn đường sang Tùng Bá nhiều. Ngày tết, những thiếu nữ Dao che dù nhiều màu đi chơi, nói cười trong trẻo, những thanh niên thấm rượu, đi làng xàng ngoài đường, gặp khách lạ là lại chặn lại, kéo vào nhà “làm chén rượu ấm bụng rồi đi!”…

Bản Noong hào phóng đến đáng ngờ. Cũng như hồ Noong đẹp như một giấc mơ tan muộn giữa ngày. Dài khoảng 2km nằm dưới chân một dãy núi đá, mùa này khô, nên nước hồ rút xuống, dân quanh đó quay bạt thả vịt, ngan, lúc nào mặt hồ cũng lung linh bóng những gốc cây già trụi lá, những miếng bạt hay một bóng ghe nhỏ nằm gác mái. Mùa nước lên, du khách vào có thể theo người chăn vịt hay đánh cá để đi trên hồ. Đi dạo trên hồ bằng ghe mướn, cả buổi, có khi chỉ 20 ngàn đồng, còn được người chèo ghe mời uống vài chén rượu ngô; có khi vào bờ rồi còn đi lềnh bềnh như… trên mặt nước. Còn ngày thường, mùa nào, khi chiều về cũng có thể thấy bóng từng đôi nam nữ lên đồi, ngồi tình tự. Hồ Noong từ lâu trở thành chốn hẹn hò. Người bản Noong bảo rằng, cái hồ là nơi làm cho họ sớm có vợ, có chồng, có con cái!

Hà Giang treo giấc mơ mình trên lưng trời quanh năm mịt mùng mây khói. Khám phá thêm về giấc mơ ấy, có khi chỉ cần một chút ngẫu hứng và máu phiêu du.

(theo SGTT)
Việt Báo