Chủ nhật, 30 Tháng một 2011, 11:25 GMT+7
In

Tết trên vai mạ

Cứ mỗi đận Tết về, tôi lại nôn nao nhớ hình ảnh mạ tôi kẽo kẹt triêng gióng, gánh Tết trên vai. Ký ức Tết tuổi thơ ấy đã thành máu thịt, thành chất liệu làm nên một phần tâm hồn tôi.

 Tet tren vai ma

Làng Thượng Luật, huyện Lệ Thủy quê tôi ở vùng cát biển nam Quảng Bình, đánh giặc thì rất giỏi, có Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy anh hùng bắn cháy tàu chiến Mỹ, nhưng nghèo lắm. Câu hát nhại ca từ trong bài Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân: “Quảng Bình khoai khoai toàn khoai”, hẳn là hát về làng tôi.

Khi tôi bảy tuổi thì ba tôi mất, chị đầu đi lấy chồng, bốn anh em tôi còn nhỏ. Thế là gia đình không còn thuyền lưới, không có người đi biển. Sau một thời gian phải cầm rổ đi xin từng con cá dọc bờ biển chang chang nắng gió, rồi đi mót từng củ khoai hà, mạ tôi quyết định chạy chợ, tần tảo mấy chục năm liền kiếm gạo nuôi đàn con.

Hồi đó ở miền Bắc, ngoài mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán, không ai được mở cửa hàng tư, nhưng “cửa hàng” của mạ tôi là đôi triêng gióng trên vai, không ai bắt phạt được.

Mạ tôi mua chè xanh, thơm (dứa), quả mận quân, mít xanh, mít chín... từ chợ Huyện ở quê ngoại Hồ Xá, Vĩnh Linh, gánh về các làng biển đổi cá cho bà con. Cá ngừ, cá thu thì cắt miếng kho, cá cơm, cá duội, cá nục thì phơi làm cá khô hoặc làm mắm nêm, nước mắm để gánh đi chợ Tréo, chợ Mai, chợ Hôm Trạm, chợ Chè bán.

Từ làng tôi đi chợ Tréo gần 20 cây số, phải trèo động cát tới 6 cây số, gánh nặng phải đi 5 tiếng đồng hồ mới kịp giờ họp chợ, nên mạ tôi phải dậy từ hai giờ sáng, đến tối mịt mới về.

Những ngày Mỹ ném bom miền Bắc, đoạn đường mạ tôi đi chợ ngày nào cũng có bom nổ. Mỗi lần nghe bom nổ đâu đó, anh em tôi lo thắt ruột. Bữa nào bán ế, mạ lại gánh cá, mắm vào các làng ở xã Liên Thủy, Mỹ Thủy bán cho hết mới về.

Vì cuộc sống anh em tôi ở trên vai mạ nên khi mạ về mới có rau, cá để ăn, có quần áo, sách vở để học. Nhiều bữa cả bốn anh em chờ tới tận mười giờ đêm mạ mới về. Ăn xong anh em tôi lăn ra ngủ, mạ lại lui cui chuẩn bị cá mắm để sáng mai lên chợ. Khi thức dậy thì đã thấy nồi cơm, soong cá mẹ kho để trên chạn bếp. Đó là thức ăn cho mấy đứa suốt ngày.

Vào mỗi dịp giáp Tết, từ đầu tháng Chạp, mạ tôi chạy chợ liên tục. Có lần tôi được đi chợ Huyện vào ngày 26 Tết với mạ. Tôi lẽo đẽo đi bộ theo mạ suốt 26 cây số, vượt truông Nhà Hồ đến chợ. Đến chợ tôi say mê chạy theo mấy ông bán tò he, gà đất, chó bột, vấp phải hàng nồi đất, vỡ mất mấy chiếc, mạ phải đền.

Những ngày trước Tết, mạ tôi gánh đến cho người làm ruộng những chai nước mắm ngon, gọi là nước mắm chắt, những con mắm mục, mắm trích thính thơm phức, những khúc cá ngừ, cá thu kho ngon lựng; gánh về cho bà con làng biển Thượng Luật bó chè xanh, quả thơm, quả mít, rồi kẹo bi, kẹo bột đậu bọc giấy bóng xanh đỏ tím vàng cho trẻ con; rồi các thứ bánh để thờ trên bàn thờ ngày Tết như bánh in, bánh ít, rồi lá dong, lá chuối để bán cho các nhà gói bánh tét.

Chỉ có ngày 30 Tết là mạ về sớm hơn. Nói là sớm cũng bốn năm giờ chiều. Từ chợ về, trên vai mạ một gánh Tết đầy.

Tối 30 Tết, mạ tôi nấu xôi, chè, làm con gà giò luộc để nhờ thầy xem giò đoán vận hạn; làm mâm cơm cúng tất niên. Mạ vừa nấu cúng vừa bán hàng Tết chịu nợ cho bà con nghèo, vì đến gần giao thừa rồi mà nhiều gia đình vẫn chưa kiếm được tiền sắm Tết. Cúng tất niên xong là mạ gói bánh tét.

Anh em chúng tôi được mạ phân công đứa thì lau chùi lư đỉnh ấm chĩn trên bàn thờ, thay cát trong những bát nhang, riêng tôi thì canh nồi bánh tét, khi nào cạn nước thì thêm nước.

Tôi trải chiếu bên nồi bánh, thắp đèn dầu nằm đọc sách, rồi ngủ quên lúc nào không biết: Bên mạ ta thường thức đợi/ Giao thừa đến lúc ngủ quên/Bên nồi bánh tét lục bục/Lửa cũng ngủ vùi trong than...

Suốt đêm giao thừa, mạ tôi vẫn cặm cụi làm bánh nổ, bánh đúc, bánh ú để mai sớm gánh ra bán ở nơi làng tổ chức đánh đu, chơi Tết. Làng tôi hồi đó Tết nào cũng có hai cây đu lớn.

Từ rằm tháng Chạp, người ta đã kéo nhau vô các làng miền ruộng để chọn mua tre về dựng đu. Bắt đầu từ sớm mùng Một Tết, thanh niên nam nữ trong làng đã chen nhau chơi đu.

Trẻ con chúng tôi thì đứng xem, vỗ tay tán thưởng mỗi khi có cặp đu vút lên vượt đỉnh cây đu. Sáng mùng Một, mạ tôi dọn xôi chè và mấy thứ bánh cúng ông bà, cúng ba tôi, phát áo mới cho bốn anh em, dặn không được sang nhà họ đạp đất (xông đất), lo trong năm có gì xui họ trách, rồi mạ triêng gióng gánh Tết lên vai tới tối mịt mới về.

Mạ tôi là người nấu ăn rất thiện nghệ. Bởi thế mà suốt mấy chục năm khi xã, hợp tác xã có liên hoan là mời mạ tôi đứng bếp. Các thầy giáo trong huyện về Ngư Thủy dạy cấp 1, cấp 2 đều ở nhà tôi, có lẽ một phần vì nhà tôi có tủ sách lớn do ba tôi để lại, phần nữa là do mạ nấu ăn ngon.

Mạ tôi làm bánh nổ bằng thóc nếp rang cho nổ bung, sảy vỏ rồi cho vào nấu với nước đường, thêm tí vani, tí bột đao, ép khuôn cắt thành từng vuông nhỏ, hoặc vắt tròn như quả mận. Ăn ngọt mà giòn rụm.

Ngày Tết, trẻ con trong làng rất thích loại bánh này. Mạ còn nấu bánh đúc bằng gạo mùa mới gặt. Nấu cho nhuyễn, thêm gia vị rồi đổ ra cái mâm thau, đợi bánh nguội, cắt thành từng miếng hình thoi, xếp vào thúng lót lá chuối, gánh đi bán. Bánh đúc chấm nước lèo ăn no vẫn thòm thèm.

Cuộc đời mạ tôi trầm luân vất vả. Nước mắt mạ nhiều hơn nụ cười. Chỉ có đêm 30, sớm mùng Một là có Tết ở nhà. Gọi là Tết nhưng phải quần quật lo bao việc đến sáng đêm. Trong ký ức của tôi, Tết luôn ở trên vai mạ.

 Việt Báo (Theo DNSG)