Thứ hai, 08 Tháng mười hai 2003, 19:04 GMT+7
In

Khó chống "chảy máu" cổ vật bằng biện pháp nhỏ giọt

Một tượng Phật thế kỷ XVII-XVIII đã bị đánh cắp.

"Rất khó bảo vệ di sản văn hóa nếu không có sự đồng thuận ở cấp khu vực, quốc tế cùng những chiến lược toàn cầu. Bởi hiện nay, buôn lậu cổ vật đã trở nên quy mô, có thể sánh với các đường dây ma tuý xuyên quốc gia", Thứ trưởng Bộ VH-TT Trần Chiến Thắng nhấn mạnh tại hội thảo "Chống buôn bán trái phép tài sản văn hóa" ngày 8-9/12.

Tại hội thảo, đại diện Cục Di sản Văn hóa, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Tổng cục Hải quan, tổ chức UNESCO... đều thừa nhận thực tế: nạn buôn bán trái phép tài sản văn hóa đã ở mức báo động. Theo ông Nguyễn Văn Hồng, Phó Vụ trưởng Pháp chế, Bộ VH-TT, chỉ trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2003, ngành Hải quan Việt Nam đã phát hiện tới 16 vụ xuất lậu cổ vật qua biên giới. Tiêu biểu là các vụ Chi cục Hải quan Cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Carmona Antonio Miguel (quốc tịch Mỹ), về hành vi xuất khẩu 2 thanh kiếm nguồn gốc Đông Nam Á niên đại đầu thế kỷ XX hay vụ ông Jurdy John Kenneth (quốc tịch Canada) xuất khẩu trái phép 10 cổ vật, trong đó có 5 rìu đá niên đại 3.500 năm...

Không chỉ qua con đường xuất ngoại, buôn lậu cổ vật ngay trong phạm vi các tỉnh, thành ngày càng gia tăng. Theo ông Đặng Văn Bài, Cục trưởng Di sản Văn hóa, Bộ VH - TT, chuyện tượng Phật, đồ thờ, sắc phong ở đình, làng... bị trộm cắp đã trở thành "cơm bữa". Điển hình là các vụ chùa Tây Phương (Hà Tây) bị mất cắp tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhã bằng gỗ mít; các đình Ninh Xá, chùa La Dương, đình Ba Nhà (Hà Tây) mất đồ thờ; chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) mất tượng; chùa Ngô Xá (Nam Định) mất đầu tượng Phật thời Lý bằng đá... Mặt khác, song song với việc cổ vật bị trộm cắp thì nạn đào bới trái phép các di chỉ khảo cổ học như văn hóa Óc Eo (An Giang), di chỉ làng Vạc (Nghệ An), di chỉ Cát Tiên (Lâm Đồng), mộ cổ Đống Thếch (Hòa Bình), Chu Đậu (Hải Dương)... cũng diễn ra tràn lan. Hơn thế nữa, "những hiện vật bị đào bới, trục vớt trái phép này được bày bán công khai, bất chấp những quy định pháp luật", ông Bài bức xúc.

Thế nhưng ngược với thực tế trên, các giải pháp chống "chảy máu" cổ vật từ các cấp quản lý vẫn tỏ ra khá lúng túng và nhỏ giọt. Ông Nguyễn Văn Hồng (Phó Vụ trưởng Pháp chế) nhận định: "Sở dĩ việc xuất khẩu, mua bán trái phép cổ vật tràn lan là do Việt Nam bị vướng mắc về cơ chế chính sách và thiếu những quy định liên ngành". Trong khi đó, người trực tiếp quản lý thì lại chưa hề được hướng dẫn chi tiết việc thực thi Luật Di sản Văn hóa. Lấy ví dụ, công tác đào tạo nghiệp vụ nhận biết cổ vật cho cán bộ kiểm soát trực tiếp tại cửa khẩu và các cơ quan văn hóa còn lỏng lẻo, dẫn tới tình trạng cứ... nghi cổ vật là tạm giữ hàng hóa. Như vậy, quá trình giám định hàng hóa nghi là cổ vật thường mất khá nhiều thời gian mà lại khó đưa ra kết luận chính xác. Vụ Hải quan Lạng Sơn tạm giữ một số tượng Phật nghi cổ (năm 2001) là ví dụ. Việc tạm giữ hàng hoá quá thời gian quy định một mặt ảnh hưởng đến quan hệ giữa những người làm công tác quản lý và khách xuất nhập khẩu vì một số đối tượng sẽ nghĩ hải quan làm "khó". Mặt khác hành động trên đã vi phạm Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (quy định thời hạn tối đa là 60 ngày).

Một nguyên nhân khác khiến công tác bảo vệ cổ vật gặp khó khăn, theo ông Etienne Clement, trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Campuchia, còn là các bảo tàng thường không nhiệt tình trong việc trình báo mất trộm bởi họ sợ tiền bảo hiểm cho các bộ sưu tập sẽ tăng lên và bảo tàng không có khả năng chi trả.

Về phía các bảo tàng (nơi lưu giữ, trưng bày và bảo quản cổ vật), khá nhiều biện pháp chống thất thoát (như sửa chữa kho bảo quản, nâng cấp hệ thống tủ, bục, kệ, ánh sáng, độ ẩm) được đặt ra... Song đó mới chỉ là giải pháp tình thế, bởi theo ông Phạm Quốc Quân, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, vấn đề quan trọng là xây dựng được ý thức sở hữu trong cộng đồng. Ông Quốc giải thích: "Trên thế giới, đã có những nhà sưu tập dám bỏ cả gia tài để mua một cổ vật trong một cuộc bán đấu giá. Ở Việt Nam, số lượng người sưu tầm hiện vật đang ngày càng phổ biến. Thế nhưng thực tế pháp luật Việt Nam lại chưa có cơ chế thông thoáng cho sự ra đời và hoạt động của các nhà sưu tập tư nhân đó. Và vì thế, cổ vật, theo quan niệm hiện nay, vẫn thuộc sở hữu Nhà nước. Mà cha chung thì không ai khóc! Không cho công khai buôn bán và cho quyền sở hữu tư nhân cũng là lý do quan trọng dẫn đến thất thoát tài sản văn hóa".

Hiện, UBND TP Hà Nội đã cho phép thành lập Hội Nghiên cứu Sưu tầm gốm và cổ vật Thăng Long, tổ chức tư nhân đầu tiên ở Việt Nam có chức năng tập hợp người chơi cổ ngoạn. Tuy nhiên, giải pháp trên mới dừng ở mức "khích lệ", "động viên" tinh thần dân mê sưu tập cổ vật chứ chưa có một thế chế luật pháp quốc gia hoàn chỉnh, bài bản và một chương trình toàn diện cho hoạt động của những tổ chức tư nhân loại này cùng việc bảo vệ và bảo quản.

Hiền Hòa

Việt Báo