Thứ hai, 21 Tháng hai 2005, 16:00 GMT+7
In

Viễn thông "trổ cửa" nhưng còn "đóng cổng"

Chất lượng của các mạng điện thoại di động không thỏa mãn khách hàng khiến một câu hỏi đặt ra: Khi các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được tham gia thị trường VN, khách hàng sẽ dễ chịu hơn? Câu trả lời từ phía các chuyên gia là: Chưa chắc.

Vien thong tro cua nhung con dong cong
Thêm nhà cung cấp dịch vụ sẽ thêm cạnh tranh.

Theo ông David Ray, chuyên gia Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh VN, các nhà cung cấp viễn thông nước ngoài sẽ gặp khó khăn như các nhà dịch vụ trong nước trong việc đối phó với vị thế mạnh của VNPT. Thực tế này được ông Dae Hyun Chung, Tổng giám đốc của SLD Telecom - bên nước ngoài của S-Fone - thừa nhận: "VNPT thực sự có mọi thứ liên quan tới cơ sở hạ tầng viễn thông. Các doanh nghiệp mới trong ngành này phải mượn hoặc thuê của họ. Vấn đề là việc mượn hay thuê luôn luôn khó khăn, đôi khi mất rất nhiều thời gian và phải trả chi phí cao. Ngay cả việc đàm phán với VNPT cũng là một vấn đề nan giải".

Lãnh đạo một doanh nghiệp di động trong nước nhận xét, nếu có trạm phát sóng rồi mà VNPT không cho kết nối, tắc ở đường truyền dẫn thì có nhiều vốn đến mấy, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài cũng bó tay.

Một cản trở khác với các nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực viễn thông là họ chỉ có thể tham gia vào thị trường VN thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Đây là hình thức các đối tác thỏa thuận tiến hành hoạt động đầu tư mà không tạo ra một pháp nhân mới. Một hoặc cả hai bên có thể góp vốn cố định hoặc lưu động, nhưng việc chia lợi nhuận sẽ dựa trên cơ sở thỏa thuận chứ không theo tỷ lệ góp vốn. Trong ngành viễn thông, bên VN thường đóng góp truy nhập mạng và một phần vốn lưu động, bên nước ngoài thường góp vốn cố định, số tiền này sẽ là tài sản của bên VN khi kết thúc dự án. Việc quản lý mạng thuộc về bên VN.

BCC đã đóng góp đáng kể cho phát triển hạ tầng viễn thông ở VN, cho phép một số công ty viễn thông quốc tế hàng đầu tham gia vào thị trường VN. Hiện nay 8 trong 10 BCC ở VN là hợp tác với VNPT. "Các dự án liên doanh đã từng bước nâng cao kỹ năng, kỹ thuật và quản trị kinh doanh cho các nhân viên VNPT, cho phép VNPT vận hành một cách hiệu quả các mạng lưới viễn thông hiện đại của mình", một lãnh đạo VNPT tổng kết.

Song với BCC, do không có tư cách pháp nhân, các nhà đầu tư nước ngoài không có giá trị tài sản lâu dài trong dự án. Vì vậy họ không chấp nhận việc thu hồi vốn thấp tại thời điểm ban đầu để có thể tiếp tục thực hiện dự án rồi sẽ có lợi nhuận cao hơn về sau. Đối với một mạng di động toàn quốc cần khoảng 500 triệu USD cho 10 năm, phía nước ngoài thường yêu cầu chia lợi nhuận 50:50 với tỷ suất cao để sau 4-5 năm thu hồi xong vốn.

Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài không chịu trách nhiệm trực tiếp trong hoạt động và chất lượng dịch vụ. Quản lý của một nhà đầu tư nước ngoài nói rằng, mặc dù vốn được rót từ công ty của họ nhưng thực tế VNPT quyết định hầu hết các vấn đề mua sắm. Công ty của họ được tham gia hình thức vào việc chọn nhà cung cấp cho một dự án chuyển mạch lớn trong khi VNPT tự mình quyết định hầu hết các vấn đề trong việc chọn nhà cung cấp cho các mạng lưới ngoại biên.

Ông Kyun Chul Park, Phó giám đốc Korea Telecom đề cập: "Chúng tôi muốn đầu tư thêm, nhưng trong một môi trường thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hệ thống BCC không phù hợp với các lĩnh vực thương mại như Internet - một lĩnh vực phát triển nhanh chóng và cần sự cạnh tranh trên thị trường. Để thích ứng, các doanh nghiệp nước ngoài nên được phép cùng sở hữu trong doanh nghiệp và tham gia trực tiếp vào việc điều hành doanh nghiệp đó".

Đại diện nước ngoài của một liên doanh khác cho rằng, trong tương lai chi phí vốn đầu tư các dự án viễn thông sẽ cao hơn, lợi nhuận mong đợi sẽ thấp hơn, vì vậy nếu áp dụng BCC, VN chỉ có thể thu hút được các nhà đầu tư kém chất lượng. Hạn chế này đã được VN tính đến. Năm 2004, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Kế hoạch Đầu tư và Bộ Bưu chính Viễn thông hướng dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông, tuy nhiên cho đến nay văn bản hướng dẫn đó vẫn chưa được ban hành.

Theo các chuyên gia, trong điều kiện của VN hiện nay có 2 phương án có thể được xem xét. Thứ nhất là đối tác trong nước sẽ thành lập một công ty liên doanh theo Luật Doanh nghiệp, sau đó bán cổ phần cho đối tác nước ngoài. Hạn chế của hình thức là nhà đầu tư chỉ có thể mua tối đa 30% cổ phần. Điều này có thể tạo ra rào cản cho các dự án viễn thông lớn. Phương án 2 là chuyển BCC hiện nay thành một công ty liên doanh, muốn vậy Chính phủ phải sửa đổi Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài.

Do hợp đồng BCC giữa Comvik và VNPT hết hạn vào tháng 6 năm nay, 2 bên đã thảo luận, đề xuất lên Chính phủ về việc chuyển đổi BCC thành liên doanh cổ phần theo phương án 1 và đã được chấp nhận. Thay đổi này được dự đoán sẽ thổi một luồng gió mới tới toàn bộ hoạt động của MobiFone vào cuối năm với nhiều tiếng nói tham gia của đối tác nước ngoài hơn so với hiện nay.

Trong quá trình triển khai Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và việc đàm phán gia nhập WTO, sự hạn chế về hình thức đầu tư trong lĩnh vực viễn thông sẽ phải thay đổi. Lộ trình mở cửa đối với các nhà đầu tư Mỹ bắt đầu có hiệu lực, và thông tin di động là lĩnh vực thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư. Huchison Whampoa (Luxembourg) hợp tác với Công ty cổ phần Viễn thông Hà Nội triển khai mạng 092 , Siemens xin tham gia dự án mở rộng mạng VinaPhone cho thấy mảnh đất viễn thông VN còn rất màu mỡ.

Cũng vì lý do nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp VN, mới đây Bộ Bưu chính Viễn thông đã trình Chính phủ Dự thảo chính sách hỗ trợ sản phẩm công nghệ thông tin trọng điểm. Thứ trưởng Mai Liêm Trực cho rằng, thời gian bảo hộ vài năm còn lại là rất quan trọng để doanh nghiệp VN chuẩn bị cho hội nhập, bởi khi tham gia vào sân chơi thế giới, dù muốn hay không cũng phải phá bỏ mọi rào cản cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

Việt Phong

Việt Báo