vietbao

Cổ phần hóa cần bảo đảm quyền lợi người lao động

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

QH thảo luận về cổ phần hóa DNNN:

Co phan hoa can bao dam quyen loi nguoi lao dong
Đại biểu Đặng Ngọc Tùng (Đoàn TP.HCM) phát biểu góp ý kiến về kết quả việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước - Ảnh: Đình Nam

TS - Chủ trương cổ phần hóa là đúng đắn nhưng còn rất nhiều vấn đề đặt ra như: việc định giá doanh nghiệp khi lên sàn giao dịch, quyền lợi của người lao động, lộ trình, tiến độ thực hiện, các chính sách ưu đãi, quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ, kinh nghiệm từ doanh nghiệp nhỏ áp dụng vào tổng công ty, tập đoàn, giám sát của các tổ chức tài chính...

Theo báo cáo kết quả giám sát thực hiện cổ phần hóa DNNN, đến cuối năm 2005 đã cổ phần hóa được 2.935 DNNN. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa tăng. Tính chung 85% doanh nghiệp cổ phần hoạt động có lãi.

Theo Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN, tính đến tháng 8-2006, cả nước đã thực hiện CPH được 3.060 DN, trong đó, đáng chú ý là các DN cổ phần có quy mô ngày càng lớn.

Về vấn đề cổ phần hóa DNNN, các đại biểu có nhiều ý kiến đóng góp như:

ĐB Trương Thị Mai (Trà Vinh): Về vấn đề cổ phần hóa DN, cần nhìn lại mục tiêu của cổ phần hóa, thay đổi phương thức quản lý kinh doanh. Vấn đề quản lý vốn của các tổng công ty nhà nước, đề nghị khẩn trương tổ chức quản lý tiếp cận đồng vốn nhà nước.

ĐB Nguyễn Kim Khanh (Bình Phước) đề nghị xem xét, cho không người lao động một số lượng cổ phần nhất định nào đó, hoặc bán trả chậm cổ phần. Định giá DN là việc hệ trọng, phải giao cho một tổ chức tài chính, thuộc Bộ tài chính thực hiện.

Đề nghị rà soát lại nhu cầu sử dụng đất đai của các doanh nghiệp cổ phần hóa, nếu không đúng mục đích thì thu bớt lại.

Đề nghị Bộ tài chính đánh giá quan điểm cổ phần hóa của ta, trong 10 năm qua thực hiện đến đâu, vai trò của công đoàn trong hoạt động của DN thời gian qua.

ĐB Ngô Sĩ Hưởng (Thái Nguyên): Đề nghị quán triệt chủ trương thống nhất về nhận thức cổ phần hóa, quyền và nghĩa vụ của người lao động trong DN sau khi cổ phần hóa. Tránh cổ phần hóa thành tư nhân hóa, phải ưu tiên đặc biệt đối với người lao động trong doanh nghiệp.

Đề nghị ban đổi mới DN cần tăng cường phân công kiểm tra cổ phần hóa doanh nghiệp thế nào, theo dõi tâm tư nguyện vọng của người lao động.

Đối với DN có giá trị tài sản lớn thì nhà nước nên nắm giữ trên 50%, không nên bán hết. Cần ưu tiên cho người lao động nghèo, quy định người lao động được giữ cổ phần sau khi nghỉ hưu, cần quy định cả về cổ phần của ban giám đốc kế toán trưởng sau khi nghỉ hưu.

ĐB Dương Kim Oanh (Trà Vinh): cần làm rõ thêm những vấn đề trong báo cáo như lao động dôi dư trong doanh nghiệp, vì khảo sát trong 100 doanh nghiệp là chưa đầy đủ, thiếu khách quan.

Theo báo cáo, sau khi sắp xếp lại, các doanh nghiệp cổ phần vẫn đóng góp lớn hơn 40% GDP nhưng trong báo cáo lại nói tiến trình cổ phần hóa lại chậm? vì sao có mâu thuẫn này?Từ nay đến 2010 thời gian không dài, số lượng DN cần cổ phần hóa rất nhiều, 2176 DN cần phải cổ phần hóa, do vậy cần có kế hoạch và giải pháp dê thực hiện đúng tiến độ đề ra.

ĐB Trần Đình Đàn (Hà Tĩnh): Về cơ bản chúng ta đã đạt được mục tiêu, và cổ phần hóa là giải pháp cơ bản để sắp xếp lại DN Nhà nước. Đề nghị xây dựng cơ chế nâng cao trách nhiệm của người chịu trách nhiệm về vốn của nhà nước trong doanh nghiệp, cần giáo dục tư tưởng cho người làm việc trong DN.

ĐB Lê Văn Đông (Phú Yên): Cổ phần hóa sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển. Hành lang pháp lý cho cổ phần hóa đã đủ, có 3 kết quả đạt được theo báo cáo như đơn từ thưa kiện giảm đi rõ rệt, công tác tổ chức gọn nhẹ.

ĐB Lê Thị Dung (An Giang): Cổ phần hóa phải triệt để, đi vào thực chất. Đề nghị rà soát để xem DN nào được ưu đãi để tránh thất thu ngân sách nhà nước, nên tính đến giá trị đất, tiềm năng thương hiệu, xử lý nghiêm trường hợp lợi dụng cồ phần hóa để hưởng lợi cá nhân.

ĐB Trương Văn Hiền (Nghệ An): Để đánh giá cổ phần hóa, giữa được và mất cần phải xác định cái nào lớn hơn. Đề nghị các ngành, ban cần nhanh chóng đổi mới và thực hiện các quy định đã có để giải quyết vấn đề cổ phần hóa chậm.

Đối tượng có thể đánh giá hoạt động doanh nghiệp chính xác là ngành thuế, nên quy định rõ ràng cho các công ty đầu tư tài chính.

ĐB Nguyễn Thị Anh Nhân (Hà Nội): Với mục đích cải cách doanh nghiệp nhà nước, bức tranh toàn cảnh của nước ta 12 năm nay đã thể hiện rất đầy đủ toàn diện.

Rào cản chủ yếu trong tiến trình cổ phần hóa là định giá doanh nghiệp, chính công tác này đã làm chậm tiến trình. Cần phải có cơ chế định giá hợp lý. Cần tính đến mục đích cổ phần hóa, khả năng tồn tại sau khi cổ phần hóa.

Cần làm rõ và cụ thể DN nhà nước nào cần nắm giữ thành công ty TNHH một thành viên, công ty nhà nước nắm vốn chủ yếu...

ĐB Đặng Ngọc Tùng (TP.HCM) trao đổi sâu hơn: Qua kiểm toán của 44 doanh nghiệp nhà nước của các tổng công ty lớn, báo cáo: tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các doanh nghiệp nhà nước là thấp chỉ có 6,7%. Trong khi đó ở Trung Quốc, tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp cổ phần hoá cao hơn khoảng 12 %, Ấn Độ khoảng 24%. Ở Việt Nam, qua thống kê các doanh nghiệp Nhà nước vừa rồi đã cổ phần hoá, lợi nhuận tỷ suất trên vốn chiếm bình quân từ 10-20% và theo báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trên địa bàn TP.HCM, tỷ suất này là 33%...

Như vậy, chúng ta thấy rằng nếu vốn doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá nhiều hơn thì chắc chắn nó đưa hiệu quả cao hơn nữa.

Một số doanh nghiệp có mặt bằng quá lớn, chính điều đó đẩy cổ phần của họ lên cao rất nhiều, khiến đại đa số người lao động không có tiền để mua cổ phần. Tuy được giảm 40% so với bình quân giá đấu thầu nhưng nhiều người bỏ thầu cao sau đó không thực hiện, nên thiệt thòi đến quyền lợi của người lao động. Chúng tôi đề nghị phải nghiên cứu, sửa đổi lại Nghị định 187CP của Chính phủ làm sao vẫn để 40% nhưng với giá thầu thấp nhất.

Trong Nghị định 28 hay 44, 64 trước đây quy định người lao động nghèo được mua cổ phần ưu đãi phiếu trả chậm một thời gian nhưng Nghị định 187 lại không, nên thiệt thòi cho quyền lợi người lao động nghèo. Chúng tôi kiến nghị sửa Nghị định 187 theo hướng cố gắng duy trì quyền lợi của người lao động nghèo.

Một điểm nữa chúng tôi thấy là các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá thì vốn tự có của doanh nghiệp là tương đối lớn, đó là công sức của đại đa số của người lao động đóng góp. Chúng tôi kiến nghị phải sớm cho phép đưa vốn tự có, có thể là một phần thôi chứ không phải là toàn bộ để tính cổ phần cho người lao động, đặc biệt là người lao động nghèo.

Về giá trị quyền sử dụng đất trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá, chúng ta thấy rằng có những doanh nghiệp chiếm vị trí rất thuận lợi, có những doanh nghiệp chiếm nhiều và găm giữ mặt bằng. Nếu đưa một phần giá trị quyền sử dụng đất vào việc tính giá trị của doanh nghiệp thì sẽ buộc doanh nghiệp phải tính toán sao cho có hiệu quả chứ không giữ lại nhiều đất. Như vậy, sẽ có lợi hơn cho sự phát triển của đất nước, để Nhà nước lấy các mặt bằng đó phục vụ cho các công trình phúc lợi. Nếu không Nhà nước phải điều chỉnh lại giá cho thuê đất bằng với giá thị trường để không có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế.

Điều quan trọng nữa mà tổ chức công đoàn chúng tôi sẽ kiến nghị với Nhà nước là tiếp tục duy trì Nghị định 41, Nghị định 155 vì quá trình cổ phần hoá sẽ còn kéo dài để bảo đảm quyền lợi của người lao động.

ĐB Hoàng Thanh Phú (Thái Nguyên): Việc cổ phần hóa các đơn vị hành chính sự nghiệp là đúng đắn và nên xúc tiến mạnh ở các trường đại học, trung học dạy nghề.

Các bất động sản, tài nguyên khoáng sản giao cho doanh nghiệp khai thác chưa được tính toán giá trị, đề nghị phải xúc tiến xác định sớm.

Việc tiến hành cổ phần hóa đối với các mỏ than đã tiến hành cả chục năm nay và làm khá tốt, các công ty được cổ phần là công ty con, còn công ty mẹ vẫn thuộc nhà nước nên không sợ bị tư nhân hóa các mỏ than và ngành than.

ĐB Nguyễn Mạnh Đức (Yên Bái): Số vốn nhà nước rút ra đầu tư cho phát triển hiện nay thế nào, còn hay mất? Dư luận cho rằng việc quản lý nguồn vốn này rất lỏng lẻo nên mục tiêu đặt ra không như mong muốn, và nhiều tài sản nhà nước thuộc vào tay tư nhân.

ĐB Đặng Như Lợi (Cà Mau): một trong những mục tiêu của cổ phần hóa là thay đổi phương thức quản lý doanh nghiệp để tránh tiêu cực, thất thoát trong doanh nghiệp, liệu đội ngũ quản lý còn ăn vào chi phí hay không với cách làm hiện nay.

Báo cáo nên bổ sung tổng vốn điều lệ của doanh nghiệp lúc bắt đầu thành lập, lúc trước cổ phần hóa và sau cổ phần hóa

ĐB Nguyễn Hữu Đồng (Nam Định): nhận xét cua tôi là 7 giải pháp chính phủ đề ra hơi mang tính hô khẩu hiệu và trùng nhau. Ví dụ, giải pháp thứ 2 và 3 gần như trùng nhau. Như thế là không hợp lý, nhiệm vụ của ban chỉ đạo trong các giai đoạn sau phải nặng hơn giai đoạn trước.

ĐB Trần Đình Long (Dak Lak): xét về sở hữu thì phần vốn nhà nước trong các công ty cổ phần vẫn thuộc nhà nước. Con số 3.590 doanh nghiệp cổ phần vẫn còn khiêm tốn trong quá trình cổ phần hóa, nhà nước nắm 33% cổ phần chi phối, và đây không phải là con số lớn vì theo luật phải trên 50%. Vấn đề quan tâm nhất là vẫn còn đến 2.160 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.

Sau ý kiến của các đại biểu, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh tóm gọn lại các ý kiến và phát biểu: trong thời gian tới bộ sẽ gửi báo cáo nội dung chi tiết và cụ thể hơn đến đại biểu QH. Đánh giá chung kết quả của việc cổ phần hóa trong thời gian vừa qua là đúng đắn.

Cần phải tiếp tục thực hiện mạnh và có hiệu quả hơn các DNNN và cổ phần hóa DNNN, tạo điều kiện để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và hội nhập, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp sau khi chuyển đổi.

Chương trình kế hoạch sắp tới phải được lập ra đầy đủ cụ thể và thực hiện quyết liệt hơn, có đúc kết các bài học kinh nghiệm với mục tiêu tránh sự đổ vỡ của doanh nghiệp.

Về phạm vi, Bộ xác định rõ các doanh nghiệp Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối. Chính sách đối với người lao động còn có nhiều ý kiến, Bộ trưởng cho biết đã cụ thể hóa theo đường lối của Đảng.

Trong thời gian sắp tới, sau khi có nghị định 41 sửa đổi, việc định giá doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa sẽ chỉ là cơ sở để đưa doanh nghiệp lên sàn chứng khoán.

Theo thống kê sơ bộ, chính phủ đã thực hiện ưu đãi thuế cho doanh nghiệp khoảng 2.700 tỉ. Sắp tới, chính phủ sẽ nghiên cứu để các ưu đãi này hợp lý hơn.

Về quỹ cổ phần hóa theo nghị định 187, trước nghị định 187 được thành lập ở 3 cấp, từ trung ương đến địa phương, hiện đã bỏ cấp địa phương để tập trung về trung ương.

H.N (ghi) - TTXVN

Báo cáo của Chính phủ về Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước: Hiệu quả cao nhưng triển khai chậm (lược ghi)

Cổ phần hoá các DNNN thời gian qua đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng việc cổ phần hoá, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng thực hiện còn chậm.

Các DNNN đã cổ phần hoá, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn ngoài xã hội trong quá trình cổ phần hoá DNNN còn hạn chế do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá.

Thời gian thực hiện cổ phần hoá một doanh nghiệp còn dài, làm tiến độ cổ phần hoá chậm.

Theo báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hoá đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%.

Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thông.

Việc thu hút cổ đông ngoài doanh nghiệp mới đạt 24,1% vốn điều lệ; mới có trên 20 công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để tham gia vào phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc người lao động trong một số doanh nghiệp bán bớt cổ phần ưu đãi sau khi mua đã làm giảm tác dụng của chính sách khuyến khích người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp.

Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty; phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như DNNN. Hạn chế này rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cổ phần chi phối, ban lãnh đạo của doanh nghiệp đều từ DNNN trước đó chuyển sang.

Trong một số công ty cổ phần, người lao động - cổ đông phần do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy. Ngược lại có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng… vẫn còn áp dụng như DNNN.

Nguyên nhân

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên ở các cấp, người lao động trong doanh nghiệp chưa nhận thức đúng đắn về công cuộc đổi mới, sắp xếp và cổ phần hoá DNNN. Một số khác còn mang nặng tư tưởng bao cấp, lo ngại sau cổ phần sẽ mất đặc quyền, đặc lợi.

Một số Bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết của Đảng, quy định của Nhà nước, thiếu chương trình, kế hoạch cụ thể, chưa tích cực, sâu sát trong chỉ đạo thực hiện đã làm ảnh hưởng tới tiến độ cổ phần hoá DNNN.

Một số khó khăn, vướng mắc trong chính sách cổ phần hoá chưa được xử lý kịp thời như: đối tượng cổ phần hoá, việc bán cổ phần ra bên ngoài, chính sách bán cổ phần ưu đãi, phương thức bán cổ phần, quy định về xác định giá trị doanh nghiệp; chưa có giải pháp xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, quy trình cổ phần hoá toàn bộ tổng công ty nhà nước.

Những khó khăn, vướng mắc của DNNN sau cổ phần hoá chưa được xử lý kịp thời, vẫn còn tình trạng phân biệt đối xử trong việc cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất, di chuyển địa điểm sản xuất, vay vốn kinh doanh…

Phương hướng, nhiệm vụ đến năm 2010

Theo số liệu tổng hợp từ các Bộ, địa phương, tổng công ty 91, đến nay, cả nước còn 2.176 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng. Trong đó, 1.546 doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, 335 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và 295 nông, lâm trường quốc doanh. Phân theo cơ quan chủ sở hữu, có 301 doanh nghiệp thuộc tổng công ty 91; 408 doanh nghiệp thuộc tổng công ty 90; 307 doanh nghiệp thuộc các Bộ, ngành; 1.160 doanh nghiệp thuộc địa phương.

Với những bối cảnh và yêu cầu nêu trên, phấn đấu đến cuối năm 2009, cơ bản hoàn thành việc sắp xếp DNNN. Cụ thể là:

a) Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa phương:

Đối với các doanh nghiệp kinh doanh: tiến hành cổ phần hóa toàn bộ, kể cả doanh nghiệp hoạt động ở địa bàn khó khăn: hỗ trợ cho doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng đến mua cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá ở địa bàn này. Những doanh nghiệp có khó khăn về tài chính cần cơ cấu lại trước khi chuyển đổi sở hữu.

Những doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, kinh tế với an ninh thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hoạt động trong lĩnh vực may mặc, xây lắp, thương mại... sẽ cổ phần hóa; trường hợp thật cần thiết Nhà nước mới giữ cổ phần chi phối. Có chính sách, chế độ lương hợp lý đối với số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp làm việc trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.

Những công ty không còn vốn nhà nước thì bán, giải thể hoặc phá sản.

Đối với những doanh nghiệp quy mô nhỏ, có cùng ngành nghề hoặc có mối quan hệ về công nghệ, thị trường... với các doanh nghiệp khác thì xem xét sáp nhập, hợp nhất, không phụ thuộc vào doanh nghiệp do địa phương hay do Trung ương quản lý để hình thành những doanh nghiệp quy mô lớn hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

Sau khi tổ chức lại sẽ tiến hành cổ phần hóa công ty mẹ. Việc sáp nhập, hợp nhất không được làm ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh, tài chính của đơn vị nhận sáp nhập, hợp nhất; phải tiến hành xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, lao động trước khi thực hiện phương án sáp nhập, hợp nhất. Tránh tình trạng thực hiện sáp nhập một số DNNN quản lý yếu kém, kinh doanh thua lỗ vào các DNNN đang kinh doanh có hiệu quả làm giảm sức mạnh của đơn vị tiếp nhận.

Đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích: Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thực hiện sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, nhiệm vụ quốc phòng an ninh ;

Thực hiện cổ phần hóa với lộ trình phù hợp, trước mắt Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức đặt hàng, giao kế hoạch quy định tại Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005.

Cổ phần hóa, Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần hoặc chỉ nắm giữ cổ phần ở mức thấp (< 35%) tại các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức đấu thầu, đặt hàng quy định tại Nghị định nói trên.

b) Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước:

Các tổng công ty nhà nước là lực lượng chủ lực trong nền kinh tế quốc dân, chiếm tới 87% tổng vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, riêng các tổng công ty 91 chiếm 71,6%. Những năm trước đây chúng ta chủ yếu sắp xếp, cổ phần hóa những doanh nghiệp quy mô nhỏ, có một số ít doanh nghiệp quy mô vừa và lớn nhằm thu gọn đầu mối.

Việc cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty là vấn đề mới mẻ, hệ trọng, khó khăn và phức tạp. Vì vậy, cần phải có quan điểm, phương pháp, bước đi phù hợp, chắc chắn, giữ vững ổn định sản xuất, không gây tác động đến môi trường đầu tư, đời sống người lao động và xã hội. Khẩn trương phân loại rõ những tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần nắm giữ 100% vốn; những tập đoàn, tổng công ty cần cổ phần hoá. Nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn đối với các tập đoàn, tổng công ty hoạt động có hiệu quả, được Nhà nước giao quản lý, khai thác và phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia, làm công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô.

Các tổng công ty nhà nước là những doanh nghiệp có quy mô lớn, đa số hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên, vẫn còn một số tổng công ty kết quả sản xuất, kinh doanh còn thấp. Để cổ phần hóa một cách hiệu quả, cần phân thành hai loại: loại hoạt động có hiệu quả thì tiến hành cổ phần hóa ngay, loại hiệu quả chưa cao thì cần làm rõ nguyên nhân để có biện pháp nâng cao hiệu quả trước khi cổ phần hóa như: đầu tư, sắp xếp lại, lành mạnh hóa tình hình tài chính, đổi mới tổ chức cán bộ.

c) Cổ phần hoá các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm:

Ngân hàng thương mại nhà nước là loại doanh nghiệp đặc thù, là một kênh cung cấp vốn quan trọng nhất cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại nhà nước có vốn điều lệ và hệ số an toàn vốn còn thấp, năng lực quản lý, trình độ công nghệ còn yếu, các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng còn nghèo, mới tập trung chủ yếu vào hoạt động cấp tín dụng. Ngân hàng thương mại nhà nước nhìn chung chưa thật sự đáp ứng nhu cầu vay vốn, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp chưa thật sự bình đẳng, vừa là đối tác, vừa là bạn hàng, gắn bó chặt chẽ với nhau để hoạt động và phát triển. Trong các năm 2007 - 2010, cần tập trung chỉ đạo đổi mới và phát triển ngân hàng thương mại nhà nước theo các hướng sau:

Đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long, cần khẩn trương thực hiện các công việc mà Thủ tướng Chính phủ đã quyết định, hoàn chỉnh trình Thủ tướng Chính phủ đề án cổ phần hóa ngay trong năm 2006 để hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2007.

Đối với ba ngân hàng thương mại còn lại (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam) thì thực hiện cổ phần hóa theo hai bước:

+ Bước 1: nâng cao năng lực tài chính theo hướng đạt các chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn quốc tế vào cuối năm 2006 đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Công thương Việt Nam và cuối năm 2007 đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

+ Bước 2: từ năm 2007 tiến hành cổ phần hoá Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam; từ năm 2008 cổ phần hoá Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Đối với Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, cần khẩn trương thực hiện đề án cổ phần hóa Tổng công ty này và hình thành Tập đoàn Tài chính bảo hiểm Bảo Việt mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt. Đối với Công ty Bảo hiểm Dầu khí, cần xây dựng đề án cổ phần hóa, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt ngay trong đầu năm 2007 và đi vào thực hiện. Việc cổ phần hóa hai công ty bảo hiểm nhà nước này phải chú trọng tới ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm trong nước, đồng thời có biện pháp nhanh chóng vươn ra thị trường quốc tế.

Đối với các công ty dịch vụ tài chính, cần tiến hành rà soát để đề ra và thực hiện lộ trình cổ phần hóa phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp này và yêu cầu phát triển thị trường tài chính.

Tổng hợp lại, theo phương án trên, từ nay đến hết năm 2010, sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp và đến cuối năm 2010 cả nước có 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Theo Nhân Dân - Website Quốc hội

Bão số 3 Thần Sét hướng thẳng Thái Bình - Nam Định

Bài viết cùng chủ đề:Kỳ họp thứ 10 QH khóa XI

Comment :Cổ phần hóa cần bảo đảm quyền lợi người lao động
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Cổ phần hóa cần bảo đảm quyền lợi người lao động bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Co phan hoa can bao dam quyen loi nguoi lao dong ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Cổ phần hóa cần bảo đảm quyền lợi người lao động ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Xã Hội
equitization should ensure workers' rights
Vietnam, Bank for Investment and Development, State enterprises, joint-stock enterprises, state companies, the interests of the people, shares goods, labor, equitisation, corporations, implementation, management, operations, for, produce, do
equitization policy is right, but also poses many problems, such as the valuation when trading floor, the rights of workers, route and schedule of implementation of preferential policies, corporate governance, the state capital ratio ...
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h308 Con dam chet cha duong truoc nha tro
    Thời sự 24h(30/8): Con đâm chết cha dượng trước nhà trọ

    Lùi thời hạn bồi thường thiệt hại sự cố môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung; Người đàn bà thuê người chặt tay, chân hối hận trong nước mắt; 7 tấn thuốc bảo vệ thực vật lậu từ Trung Quốc: Việt Nam hứng độc; Nghi vấn rơi thang máy chung cư ở Hà Nội, 1 người mắc kẹt; Lào Cai lần đầu thừa nhận số nạn nhân vụ sập hầm vàng đã tăng lên 11

  • Thoi su 24h298 Cau be 11 tuoi tu tu vi ko co quan ao moi
    Thời sự 24h(29/8): Cậu bé 11 tuổi tự tử vì ko có quần áo mới

    Có một đứa trẻ 11 tuổi vừa tự tử, thưa ông Giời; Kỳ lạ thùng niêm phong tôm tiêm tạp chất, trở thành "sạch" sau 1 đêm; Bàng hoàng thanh niên tay cầm điện thoại, chết ngồi bên đường; Bệnh nhân nhiễm HIV giật kéo đe dọa bác sĩ; Quảng Nam: Loa phát thanh xã nhiễu sóng tiếng Trung Quốc

  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t