vietbao

Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Đã thành một tiền lệ, khi bàn đến một tự sự (không chỉ là tiểu thyết) về đề tài lịch sử, trong tầm đón đợi của công chúng văn học (chuyên nghiệp, giới phê bình, và không chuyên, người đọc) ở Việt Nam, người ta vẫn thường nói đến cái gọi là "sự thật lịch sử", "tính chân thực lịch sử".

Suy nghi tu nhung tieu thuyet mang chu de lich su

Phạm Xuân Thạch

Nếu cần lựa chọn một hiện tượng tiêu biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, ưu tiên số một chắc chắn sẽ là những sáng tác của Nguyễn Bình Phương. Là sản phẩm thành công nhất của trường viết văn Nguyễn Du, kiên định trong những ý tưởng nghệ thuật, các sáng tác của anh kết tụ nhiều vấn đề có ý nghĩa tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu chiến cả trên bình diện mỹ học lẫn kỹ thuật sáng tác và mô hình tiểu thuyết. Đại diện cho một nỗ lực vượt thoát khỏi quan niệm giản đơn về mỹ học phản ánh luận, đã diễn ra một sự thay đổi về bản chất trong mối quan hệ hiện thực - sáng tác văn học trong những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương.

Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của anh vừa mang dấu ấn thế giới hiện tồn của con người đương đại vừa giống như một thế giới không có ở đâu cả (nowhere land) với sự mù mờ của những tên địa danh và sự biến mất của những ký hiệu chỉ thời gian. Có một công thức chi phối phương thức cấu trúc của một loạt tiểu thuyết quan trọng của Nguyễn Bình Phương (Người đi vắng

, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thủy): sự đan xen đồng thời của các không - thời gian (chronotope). Tiểu thuyết Người đi vắng của anh là một trong những mẫu tiêu biểu cho lối kết cấu này. Nhân vật chính trong tiểu thuyết là một cựu chiến binh thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết của một người lính đối phương do anh gây ra trong chiến tranh chống Mỹ. Không gian của thiên truyện diễn ra ở thành phố Thái Nguyên và thời gian có thể được hiểu như là xã hội Việt Nam đương đại. Tuy vậy, đan xen thế giới của cái đương đại tầm thường ấy là những trang viết về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn lãnh đạo chống lại người Pháp, một biến cố xảy ra cách thời điểm đó nhiều thập niên.

Có thể khẳng định rằng cấu trúc tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương giống như một ẩn dụ tuyệt đẹp về mối quan hệ giữa lịch sử và văn chương Việt Nam đương đại. Lịch sử không thôi là một ám ảnh đối với các nhà văn Việt Nam đương đại. Có những người trở thành tù nhân của đề tài quá khứ mà tiêu biểu là nhà văn Bảo Ninh - một Marcel Proust Việt Nam. Cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của Bảo Ninh, Nối buồn chiến tranh, là một cuộc hành trình không ngưng nghỉ trở về quá khứ với hình bóng của những con người tàn tích của thời thuộc địa - thế hệ cha mẹ anh - và tuổi trẻ buồn bã, đau thương, trong trẻo và cực độ anh hùng của chính anh trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ.

Nhà văn Tạ Duy Anh cũng là một trường hợp tương tự, cuộc Cải cách ruộng đất đã trở thành một ám ảnh toàn bộ sự nghiệp sáng tác của anh từ truyện ngắn đầu tay Bước qua lời nguyền đến cuốn tiểu thuyết Đi tìm nhân vật. Đối với nhiều nhà văn khác, đề tài lịch sử luôn chập chờn suốt cuộc đời cầm bút và nhiều khi đã làm nên những sáng tác quan trọng trong sự nghiệp văn chương của họ. Năm 2003, giải thưởng tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam được trao cho cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Được khởi thảo từ những thập niên 60 và viết lại trong thập niên 90, cuốn sách của Nguyễn Xuân Khánh viết về triều Hồ, một trong những triều đại ngắn ngủi nhất trong lịch sử Việt Nam nhưng cũng là triều đại thi hành những chính sách cải cách xã hội táo bạo và gây ra những biến đổi quan trọng trong xã hội Việt Nam. Chỉ một năm sau đó, giải thưởng Hội nhà văn được trao cho cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu của nhà văn Võ Thị Hảo, một cuốn tiểu thuyết mà chất liệu lịch sử lấy từ nguồn sử liệu về các triều Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông và những huyền tích về nhà sư Từ Đạo Hạnh.

Từ một cái nhìn rộng hơn, những tiểu thuyết đề cập đến chủ đề lịch sử luôn nằm ở trung tâm mối quan tâm của đời sống văn học ở Việt Nam. Trong những năm đầu của thời kỳ Đổi mới, những tác phẩm cuối cùng có giá trị như những di chúc tinh thần của nhà văn Nguyễn Minh Châu là những truyện ngắn được sáng tác như những tiểu thuyết cô đọng trong tình thế chạy đua với thời gian để chiến thắng cái chết: Phiên chợ GiátCỏ lau. Chứa đựng suy tư của nhà văn về lịch sử Việt Nam hiện đại, cùng với bài tiểu luận Hãy viết lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa, những tác phẩm này đánh dấu lựa chọn dứt khoát của một nhà văn quân đội đại diện tiêu biểu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa 1965 - 1975 về phía một thay đổi triệt để của đời sống văn học.

Chỉ vài năm sau những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, sau khi được xuất bản, tái bản và được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh đã gây lên một làn sóng dư luận. Nhiều tờ báo lớn đăng tải các bài viết phê phán cuốn tiểu thuyết của anh là "điên loạn, rối bời", và những ám ảnh về chiến tranh của nhân vật chính là "bôi nhọ quân đội" và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Cuốn tiểu thuyết rơi vào lặng lẽ ở Việt Nam để rồi sau đó hơn mười năm, nó lại được lặng lẽ tái bản và luôn nằm trong danh sách những cuốn sách bán chạy.

Có thể đọc được điều gì đằng sau những hiện tượng xã hội - văn học này?

Đã thành một tiền lệ, khi bàn đến một tự sự (không chỉ là tiểu thyết) về đề tài lịch sử, trong tầm đón đợi của công chúng văn học (chuyên nghiệp, giới phê bình, và không chuyên, người đọc) ở Việt Nam, người ta vẫn thường nói đến cái gọi là "sự thật lịch sử", "tính chân thực lịch sử". Điều này tưởng như là tự nhiên và hợp lý, nhưng ngay khi xuất hiện yêu cầu về "sự thật" và "tính chân thực", một câu hỏi sẽ xuất hiện: "sự thật" và "tính chân thực" nào? Nói cách khác, đó chính là câu hỏi về bản chất mối quan hệ giữa Lịch sử và sự hư cấu. Chính việc phân tích bản chất kết cẩu hình thức của tác phẩm sẽ cho phép trả lời câu hỏi nói trên.

Quan sát tiểu thuyết đương đại về đề tài lịch sử ở Việt Nam, có thể nhận ra một hiện tượng có tính chất phổ quát: quá trình cá nhân hóa hư cấu. Trên bình diện kết cấu, hiện tượng này trước hết được biểu hiện ở sự phân rã của cốt truyện. Đối với người viết tiểu thuyết, một "cuộc phiêu lưu của nhân vật" (Jean Ricardou) với sự phong phú và phức tạp của những biến cố là một chất liệu đầy quyến rũ. Nó hứa hẹn mang lại sự hấp dẫn cho thiên truyện. Tuy vậy, miên man trong những đường díc dắc của biến cố cũng chính là con đường nhanh nhất giết chết tiểu thuyết.

Nó làm cho văn bản tha hóa trở thành một chuyện kể dài. Hiện thực sáng tác cho thấy nhà văn Việt Nam đương đại ý thức về sự nguy hiểm của "cái bẫy cốt truyện" này. Có nhiều phương cách làm chủ "sự tráo trở" của cốt truyện. Hoặc họ phá vỡ trật tự cốt truyện bằng các kỹ thuật xáo trộn thời gian tự sự, điều mà nhà văn Võ Thị Hảo đã làm một cách thành công trong cuốn tiểu thuyết Giàn thiêu khi chị phối hợp những kỹ thuật này với câu chuyện về sự hóa thân của nhà sư Từ Đạo Hạnh.

Hoặc họ giới hạn thời gian cốt truyện trong những thời điểm khủng hoảng mà tiêu biểu là sự lựa chọn của nhà văn Nguyễn Quang Thân trong tiểu thuyết Con ngựa Mãn Châu. Tuy vậy, suy cho cùng, những sự lựa chọn này đều chỉ là một sự thỏa hiệp với cốt truyện. Cách hành xử với cốt truyện táo bạo nhất diễn ra trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh khi anh chủ động từ bỏ tính trong sáng của cốt truyện bằng cách phá vỡ tính liên tục về thời gian và nhân quả của các biến cố trong cốt truyện. Trong cuốn tiểu thuyết của anh, tự sự trở thành sự lắp ghép các phân đoạn trong cuộc đời và các trạng thái tâm lý của nhân vật protagoniste.

Tính phức tạp của các kỹ thuật tiểu thuyết đương đại còn được gia cố thêm bằng sự linh hoạt trong việc luân chuyển giữa trần thuật từ ngôi thứ nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba. Điều này kéo theo sự đa dạng về giọng trần thuật với sự hiện diện đồng thời của các loại lời của người trần thuật, nhân vật và lời gián tiếp tự do - sự pha trộn giữa lời của người trần thuật và lời nhân vật. Không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật, điều này liên quan đến những nguyên tắc xây dựng hình tượng nhân vật. Từ góc độ loại hình, bên cạnh kiểu nhân vật số phận - tính cách, xuất hiện một cách dày đặc kiểu nhân vật như là những lập trường tư tưởng (hệ thống nhân vật chính trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh và Con ngựa Mãn Châu của Nguyễn Quang Thân) hoặc nhân vật tâm lý (cựu chiến binh Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh).

Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa, xuất hiện đồng thời trong các tiểu thuyết lịch sử cả ba dạng nhân vật: nhân vật - chủ thể của tiến trình lịch sử, nhân vật nạn nhân của lịch sử và nhân vật - kẻ quan sát lịch sử. Nhân vật cựu chiến binh Kiên trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh là một hiện tượng đặc biệt có ý nghĩa tiêu biểu. Trên một phương diện, Kiên mang những đặc điểm của kiểu nhân vật - chủ thể của tiến trình lịch sử (người tình nguyện tham gia chiến tranh chống Mỹ), ở một phía khác, anh ta là nạn nhân của lịch sử (trong chiều kích của những mất mát không gì bù đắp được của con người đi qua chiến tranh) và ở một bình diện khác, trong cái dáng vẻ dửng dưng, lãnh đạm của một "kẻ xa lạ" tham gia chiến tranh, là kẻ hiếm hoi đi qua toàn bộ cuộc chiến với một số phận kỳ lạ được tự ý thức, anh là kẻ quan sát - chứng nhân của lịch sử, điều được anh tự lãnh nhận như một "thiên mệnh thiêng liêng".

Thế giới tinh thần của Kiên là sự hòa trộn giữa những trạng thái tâm lý và những suy tưởng và chủ âm "nỗi buồn chiến tranh" của cuốn tiểu thuyết vừa là hình chiếu của những vết thương tinh thần của con người trong chiến tranh vừa là tâm trạng bàng bạc trong những suy tư về chiến tranh và lịch sử. Ở đây, rõ ràng một mặt con người được soi sáng từ bên trong thông qua những kỹ thuật mô tả đời sống tâm lý, mặt khác được phản ánh từ nhiều góc độ để nêu bật được những khía cạnh phức tạp của con người trong những tình thế và hoàn cảnh lịch sử - một khuynh hướng tiêu biểu của tiểu thuyết đương đại ở Việt Nam về đề tài lịch sử.

Những hiện tượng hình thức nói trên phản chiếu một sự thay đổi trong bản chất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại về đề tài lịch sử. Cá nhân trở thành phạm trù trung tâm của tự sự: hoặc nhà văn làm một thứ "khảo cổ học" dấu vết của lịch sử để lại trên mỗi số phận cá nhân, hoặc phản chiếu lịch sử từ "tấm gương" ý thức cá nhân. Không phải vô lý khi một trong những môtíp được sử dụng trong tự sự (từ Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh) là con người sống lại không gian quá khứ, đi tìm lại "thời gian đã mất" của cuộc đời mình và sự phân rã cốt truyện trở thành một hiện tượng phổ biến. Lịch sử tan vỡ thành những mảnh vụn ý thức cá nhân và nhà văn trở thành người đi gom nhặt những mảnh vụn ý thức đó từ bóng tối của các thân phận.

Ở đây, có lẽ chúng ta đã chạm tới vấn đề có tính bản chất của những tiểu thuyết về đề tài lịch sử: câu hỏi về cái gọi là "sự thật lịch sử". Có hay không cái "sự thật lịch sử", "tính chân thực lịch sử" của tiểu thuyết? Câu trả lời sẽ là vừa có vừa không. Nó phụ thuộc vào chính quan niệm về cái gọi là sự thật lịch sứ. Nếu sự thực lịch sử được quan niệm như là tính xác thực ở mức có thể kiểm chứng của những tư liệu lịch sử, chí ít, người ta có thể thỏa mãn yêu cầu về "tính chân thực" trong một hình thức tiểu thuyết: tiểu thuyết tư liệu (roman documentaire).

Trong thế kỷ XX, hình thức tiểu thuyết này đã đưa một nhà văn đến với giải Nobel: A. Solzhenitsyn. Và đương nhiên, không ít nhà văn tìm cách thỏa hiệp với quan niệm này. Hồ Quý Ly là một cuốn tiểu thuyết như vậy. Từ những ghi chép trong chính sử và cuốn truyện ký Nam ông mộng lục, Nguyễn Xuân Khánh đã dựng lại một bức tranh về một giai đoạn lịch sử với tất cả tính phức tạp của một tình thế lịch sử: một triều đại cũ tồn tại một cách bạc nhược với những ông vua đắm chìm trong những suy nghĩ siêu hình của Phật Giáo và Đạo Giáo, trong ánh hào quang thắng lợi trong những cuộc chiến tranh quá khứ; một xã hội rối loạn và đau khổ vì sự hư hoại của những kẻ cầm quyền; những tầng lớp xã hội mới hình thành muốn được giữ vai trò lịch sử (nho sĩ); những toan tính cải cách xã hội và những cản trở của nền văn hoá; những cơ hội bị bỏ lỡ của dân tộc Việt Nam; những xung đột giữa lý tưởng và sự thực hành, giữa mục đích và thủ đoạn...

Tiểu thuyết trở thành đáp án, thành giả thuyết về một khoảng tối của lịch sử và khi đó, văn bản văn học được tiếp nhận và phán xét như một văn bản sử học. Người ta bàn về tính hợp lý của một giả thuyết dựa trên sự kiểm chứng các bằng chứng lịch sử. Trên một phương diện, những tiểu thuyết như Hồ Quý Ly (có một hội thảo khoa học về cuốn tiểu thuyết này với sự tham gia của các nhà sử học) hay Nỗi buồn chiến tranh đã được đọc như vậy.

Đến đây xuất hiện một vấn đề. Thứ nhất, những tư liệu về lịch sử luôn luôn chỉ là cái phần quá khứ hiện diện ra trước nhận thức của hiện tại. Nó luôn luôn là một cái gì không đầy đủ. Ngay đến một nhà sử học đích thực thì suy diễn nhiều khi vẫn là một thao tác bắt buộc. Và chính cái được gọi là "tinh thần thời đại" thực chất cũng chỉ là một suy diễn được đồng thuận thành một thứ thỏa ước cộng đồng trên những dữ liệu có tính bộ phận về quá khứ.

Trong trường hợp này, những tranh cãi về tính chân thực của một cuốn tiểu thuyết về đề tài quá khứ thực chất chỉ là sự xung đột giữa cái nhìn cá nhân và những giá trị cộng đồng (thái độ lên án Ngụy triều Hồ Quý Ly, sự ca ngợi đến mức thần thánh hóa Hoàng Đế Quang Trung,…). Đây chính là điều đã diễn ra với cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Hơn nữa, vậy thì phải chăng, tiểu thuyết sẽ trở thành một phụ phẩm của lịch sử hoặc một kẻ cạnh tranh của sử học?

Như đã trình bày trong những phần trên, những tiểu thuyết đương đại viết về đề tài lịch sử ở Việt Nam được xây dựng trên một mô thức chủ quan hóa triệt để. Hoặc nó trở thành "cuộc phiêu lưu của cái viết" (Jean Ricardou) trong thế giới nội tâm của nhân vật (Nỗi buồn chiến tranh), hoặc nó trở thành sự xung đột giữa các lập trường tư tưởng (Hồ Quý Ly, Con ngựa Mãn Châu). Khi đó, trước hết, tiểu thuyết là những ấn tượng và những suy tư cá nhân về các vấn đề của lịch sử, nó nêu ra các vấn đề lịch sử và phản chiếu những suy tư cá nhân về những vấn đề đó. Sẽ là sai lầm và dại dột nếu đi tìm trong Con ngựa Mãn Châu một sự xác thực có tính tư liệu nào đó về nạn đói và công cuộc cướp chính quyền ở tỉnh Nghệ An.

Giới hạn thời gian cốt truyện trong khoảng một năm từ khi diễn ra nạn đói năm 1945 qua biến cố nước Việt Nam đột lập ra đời cho đến khi người Pháp trở lại Việt Nam, nhà văn mô tả những chia rẽ trong một gia đình trí thức (một sản phẩm hư cấu) trước cơn bão của lịch sử: người trở thành cán bộ của Việt Nam Quốc dân đảng, người trở thành lãnh đạo Cộng sản, người đi theo cuộc kháng chiến do những người Việt Minh lãnh đạo nhưng với một tâm trạng chứa đầy những băn khoăn. Qua số phận của những cá nhân, ông nói về những dằn vặt tinh thần trong lựa chọn lịch sử của tầng lớp trí thức ở Việt Nam trong cuộc cách mạng tháng Tám.

Kế thừa một truyền thống Nho học, được thụ hưởng nền giáo dục và văn hoá phương Tây và sống trong một xã hội thuộc địa, những con người này thấu hiểu khát vọng của cả một dân tộc về độc lập, tự do, về sự đổi đời cho những ngưòi lao khổ. Họ ý thức luôn cả về những bạc nhược, ươn hèn của chính tầng lớp mình. Lựa chọn đi về phía dân tộc, về phía nhân dân là một tất yếu. Nhưng đó là một con đường đau khổ bởi trước mặt họ là những chia rẽ giữa những người vô sản và những người trí thức.

Những nghi kỵ, những khác biệt văn hoá, những vấn đề của lịch sử mà để giải quyết không đơn giản chỉ là sự “lột xác”, “tìm đường” của những người trí thức. Với những tiểu thuyết như Nỗi buồn chiến tranh, Con ngựa Mãn Châu hay Hồ Quý Ly, vấn đề về tính chân thực lịch sử, nếu có, cần phải được xác định trong những vấn đề về lịch sử mà nhà văn đặt ra trong tiểu thuyết, những vấn đề mà đôi khi, chính bản thân anh ta cũng không thể đưa ra lời giải đáp. Tính xác thực của những chi tiết ở đây không thể được đặt ra. Trước hết, chi tiết là sản phẩm của hư cấu. Thứ hai, nó thuộc về những trải nghiệm cá nhân và có tính cá biệt. Những câu hỏi về tính xác thực của những trải nghiệm cá nhân và những hiện tượng cá biệt sẽ luôn luôn là những câu hỏi khó có thể có được sự trả lời xác quyết.

Lạc lối trong những câu hỏi về tính "có thực" của những chi tiết về những hành vi bạo hành của bộ đội hay cuộc tình bất chính của những người lính quân đội nhân dân và những nữ thanh niên xung phong, người ta sẽ không thể nhìn thấy giá trị thật của Nỗi buồn chiến tranh: suy tư về những vết thương tinh thần mà chiến tranh để lại cho một dân tộc, về cái anh hùng, về cái sức mạnh tinh thần thực sự của một dân tộc trong chiển tranh, về số phận con nguời trong chiến tranh.

Cao hơn hết, sẽ phải thừa nhận rằng lịch sử nhiều khi không phải là cái đích cuối cùng của một tiểu thuyết. Điểm cuối cùng của một tiểu thuyết như Hồ Quý Ly sẽ không phải là một đáp án cho một nghi án lịch sử. Đây là một tiểu thuyết dày đặc những nhân vật với tư cách là những lập trường tư tưởng, những ẩn dụ tư tưởng: những kẻ “bị quỷ ám” (không khỏi làm liên tưởng tới tiểu thuyết Lũ người quỷ ám của đại văn hào F. Dostoievski) bị ám ảnh bởi những lý tưởng cuồng vọng (Nguyễn Cẩn, Hồ Hán Thương, Trần Khát Chân); những lãnh tụ chính trị theo đuổi những lý tưởng công chính (nhân danh sự đổi mới, nhân danh sự bác ái) nhưng bị giằng xé giữa mục đích và phương tiện để rồi cuối cùng rơi vào một trạng thái phi nhân (những thủ đoạn chính trị phi nhân - kiểu Hồ Quý Ly và sự bạc nhược trước cái ác hoành hành - qua hình tượng những hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Trần) và kẻ sĩ, những người thao thức vì số phận cả dân tộc và nhân dân, những kẻ lựa chọn “con đường khổ ải” (tên một tiểu thuyết của văn hào Xô-viết A. Tônxtôi) đi về phía nhân dân.

Hình thức kết cấu đó mang thông điệp của một ngụ ngôn luôn luôn có ý nghĩa thời sự: băn khoăn về một nền chính trị công chính và chỗ đứng của người trí thức trong cơn bão lịch sử. Sẽ "nhận thức" được điều gì đây về triều đại trị vì của những vị vua Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông và những nhân vật lịch sử như Từ Đạo Hạnh hay Nguyên Phi Ỷ Lan? Có lẽ không nhiều. Vấn đề là từ một hư cấu, tiểu thuyết buộc người đọc phải suy tư về sự giải thoát, về niềm tin tôn giáo, về những tham vọng và hạnh phúc, về quyền lực và thân phận con người.

Như đã trình bày, lịch sử là một ám ảnh đổi với nhà văn Việt Nam đương đại. Đối người Việt Nam, thế kỷ XX là một thế kỷ của chiến tranh và những cuộc cách mạng. Trong thế kỷ này, người Việt Nam không chỉ tiến hành những cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt để bảo vệ nền độc lập của dân tộc và sự toàn vẹn của lãnh thổ mà còn tiến hành những cuộc cách mạng xã hội với những biến cố lớn lao như công cuộc cải cách ruộng đất, cuộc cải tạo tư sản, hợp tác hoá nông nghiệp và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc sau 1954 và trên toàn quốc sau 1975.

Một lịch sử với những biến cố như vậy chất chứa những bí ẩn mà sử học và khoa học xã hội không dễ gì giải quyết trong một sớm một chiều. Mặc khác, những cuộc chiến tranh và những biến cố xã hội đó đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng đối với số phận của từng cá nhân người Việt Nam nói riêng cũng như số phận của cả dân tộc trong thời hiện tại. Một di sản quá khứ như vậy trở thành nỗi ám ảnh đối với nhà văn Việt Nam đương đại cũng là điều dễ hiểu.

Những tiểu thuyết viết về quá khứ luôn luôn luôn ở trong tâm điểm của đời sống văn chương và là bộ phận đạt được nhiều thành tựu nhất của văn chương Việt Nam đương đại. Quay về với đề tài lịch sử, bằng cách đào sâu những tìm tòi cá nhân và theo đuổi các sáng tạo cá nhân, nhà văn Việt Nam là kẻ nói lên được những vấn đề mà lịch sử đặt ra với dân tộc của anh ta (tôi vẫn không tin nhà văn là người có thể giải quyết được các vấn đề nhân sinh). Tuy nhiên, điều quan trọng là đằng sau một hiện tượng văn chương có ý nghĩa cục bộ đó, ấn chứa một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa lịch sử và văn chương.

Nhà văn có thể là kẻ tái hiện lại những phần khuất lấp của lịch sử (như trường hợp các tiểu thuyết tư liệu kiểu Ông cố vấn, Hồ sơ một điệp viên hay, trên một phương diện, Hồ Quý Ly). Anh ta có thể là kẻ suy tư về các vấn đề lịch sử, đặc biệt lịch sử đương đại (trường hợp của Bảo Ninh, Nguyễn Quang Thân hay Tạ Duy Anh). Và hơn hết, anh ta có thể giải phóng khỏi sự sùng bái lịch sử. Đối với anh ta, suy cho cùng, lịch sử cũng chỉ là một chất liệu để phản chiếu những vấn đề của Con Người ở tầm phổ quát (Nguyễn Xuân Khánh hay Võ Thị Hảo). Điều này phản chiếu những thay đổi trong mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Vượt thoát khỏi một quan niệm máy móc và đơn giản về cái gọi là phản ánh hiện thực mà thực chất là sự lệ thuộc vào những hình dung có tính cộng đồng về hiện thực có lẽ chính là khuynh hướng vận động quan trọng nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? Tôi không phải là người theo chủ nghĩa đề tài đến mức cho rằng quay trở về với lịch sử là lối thoát duy nhất cho nhà văn đương đại. Nhà văn có thể viết về bất cứ điều gì. Tôi cũng không phải là người sùng bái hình thức và những "cách tân", hay "đổi mới" "táo bạo", "mới mẻ". Thực ra thì sau Tiểu thuyết mới thì có tìm tòi hình thức nào là "mới" nữa đâu! Nhưng, từ những thành công của một nhóm sáng tác, người ta có thể nhận thấy rằng thoát khỏi những gông cùm của mỹ học phản ánh luận dung tục, quay trở về "thường độc hành, thường độc bộ" với những ý tưởng nghệ thuật và sáng tạo cá nhân, vượt ra khỏi những ám ảnh cộng đồng, cô độc đối diện với những vấn đề của Dân tộc và Nhân loại chính là "niết bàn lộ" của tiểu thuyết đương đại ở Việt Nam.

  • Phạm Xuân Thạch (giảng viên khoa Văn Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn)

Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?

Tiểu thuyết: Khoảng cách giữa khát vọng và khả năng....

Sự dễ dàng đã bóp chết nhà văn

Việt Báo
Rùng mình với cô gái khóc ra máu khi đang ngủ
Comment :Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Suy nghi tu nhung tieu thuyet mang chu de lich su ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Suy nghĩ từ những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
Thoughts from the fiction-themed history
Vietnam, Ho Quy Ly, Bao Ninh, Manchuria, Nguyen Xuan Khanh, Nguyen Binh Phuong, ideological, issues, so called, authenticity, relationships, fiction, history, writers, contemporary book
has become a precedent, when it comes to a narrative (not just sub thyet) on the subject of history, in the range of welcome of the public waited literature (professional critics, and amateurs, the reader) in Vietnam, it is often said about so-called "truth ...
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Thoi su 24h248 Chat xac nguoi tinh bo bao tai o Sai Gon
    Thời sự 24h(24/8): Chặt xác người tình bỏ bao tải ở Sài Gòn

    Cứu một cụ bà trong đám cháy, thiếu úy CSGT nhập viện cùng nạn nhân; Cắt điện, nước của quán cà phê Xin Chào là sai quy định; Nhiều phi công xác nhận bị chiếu đèn laser khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất; Sập hầm vàng ở Lào Cai: công bố danh tính 7 công nhân bị chết; Ẩn tình vụ vợ U60 thuê người đánh sảy thai cô giúp việc 19 tuổi

  • Thoi su 24h238 Gai tre thue chat chan tay truc loi
    Thời sự 24h(23/8): Gái trẻ thuê chặt chân tay trục lợi

    Xé áo, cắt tóc nhân tình ở phố: Nhân tình là "osin" của kẻ chủ mưu; Giám định ADN để nhận dạng 150 ngôi mộ bị xâm phạm; Vụ "tháp nghiêng" chờ sập: 3/4 hộ dân đã di dời; Dân không có quyền kiểm tra CSGT': Giám sát khác kiểm tra; Bạn gái trễ giờ lên máy bay, nam thanh niên xông vào đánh nhân viên hàng không

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t