vietbao

Một năm quan trọng đánh dấu tiền đồ cải lương: 1921-1922

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Mot nam quan trong danh dau tien do cai luong 1921 1922
Theo ý riêng tôi, tôi cho năm 1921-1922 mới là quan trọng nhứt cho nghệ-thuật cải-lương. Ở Hà-Nội, các sinh viên Cao-đẳng gốc miền Nam như Nguyễn-văn-Tuệ, Trần-quang-Hiển, Lê-quang-Hộ, Ngô-văn-Nghị, Phạm-công-Bình, Đoàn-quan-Tấn, Châu-hồng-Đào, v.v... (kể không hết, xin miễn thứ), mấy lần bãi trường trở về Nam-kỳ khi trở ra Hà-Nội, đều đem nghiệp cầm ca, bắt chước “thả cầm thơ” như đàn anh trong Nam và truyền bá điệu hát cải-lương ra xứ “ngàn năm văn vật” lần đầu vào kỳ nhập trường năm 1921.

Ông Phạm-công-Bình, sau đỗ làm giáo-sư dạy trường Chasseloup-laubat và trường Nọt-manh Sở-thú (Ecole Normale d’Instituteurs) lúc ra Hà-Nội học có việc buồn tâm sự riêng, bèn lấy đó viết ra tuồng “Tối-độc phụ-nhơn-tâm” rồi khi bãi trường thì đem bản tuồng ấy về Sài-Gòn. Tháng Chín năm 1922, anh Triệu-văn-Yên, lúc ấy còn làm thơ-ký tòa Nhì dinh Thượng-thơ, phình bụng, xuất tiền cho in bổn tuồng, nay tôi còn cất giữ được một bản, ngoài bìa có chua cẩn-thận: “cấm in lại và dùng bổn tuồng nầy mà hát”. Năm 1923 (Quí-hợi), trường tư-thục Huỳnh-công-Phát, 35 đường Kitchner (nay Nguyễn-thái-Học), lấy tuồng này đem ra tập cho các học sanh diễn dịp bãi trường. Hát làm ba đêm, có ghi rõ trong chương trình:

- Thứ bảy 20-1-23: diễn cho quí quan và thân bằng của bổn trường xem;

- Thứ tư 24-1-23: diễn cho học sanh bổn trường xem;

- Thứ bảy 27-1-23: diễn cho phụ huynh và thân bằng của học sanh nơi bổn trường xem.

Trên chương trình (Phụ-lục số 208), tôi chép lại không sai một chữ.

Personnages:

Phan-Hữu-Chí............. Đặng-Tấn-Sữu

Lý-Ngọc-Thơ............... Lê-Văn-Thiện

Lý-Công.......................P. Ng. Hiệp-Nghị

Lý-Nương.....................Hồ-Văn-Chữ

Đoàn-Thế-Trung............ Lê-Văn-Mừng

Cậu Hai-Vận................ E. Nhường

Thằng Quýt.................. Lê-Hữu-Diễn (hề đồng của Phan-Hữu-Chí)

Tửu-Bảo...................... P. Ng. Hiệp-Nghị

Tiểu-công..................... Ng. Văn-Khuê

Thằng Bưởi................... Ng. Văn-Khuê (hề đồng của cậu Hai-Vận)

Tỷ-tê tâm sự

Tuy trong chương-trình viết làm vậy, nhưng người đóng vai Lý-Ngọc-Thơ, về sau đổi lại do phụ-nữ đóng và ấy là một nữ sinh tài tình nhưng bạc mạng như là tiền định. Nàng được nhiều người để ý, và trở nên một nạn nhơn của xã hội hư đốn xa hoa. Nàng là cái bông vừa quá búp; bọn đàn ông là bao nhiêu con ong chỉ toan nút nhụy, ong già có, ong non có, và ong đã nhiễm nọc rồi cũng có. Buồn tình, nàng thả cầm-thơ, có một lúc, trước cửa xôn xao không thiếu gì người đưa kẻ đón. Nàng có tên, nhưng nhiều người chỉ biết nàng dưới danh hiệu Lý-Ngọc-Thơ trong tuồng bất hủ “Tối độc phụ nhơn tâm” mà nàng đã đóng năm ấy một cách xuất sắc.

Cô nữ-sinh nầy, tự tay cô chép trong tập thơ của tôi, bài bát cú như sau, do cô làm “mình ên”, và nay tôi còn cất trong tủ quí.

TỰ THÁN

Một bóng đèn khuya khắc lụn vơi,

Tàn canh say tỉnh giận thay đời

Bụi hồng lắm lúc cơn mưa nắng,

Má phấn nhiều phen chịu lấp vùi.

Cầm sắt những ngờ xui lá thắm

Tang thương âu hẳn phận bèo trôi.

Nào người chung đội trong trời đất,

Gang tấc nầy xin nhắn một lời.

Trần-Quế-Anh, tự Chín Ênh(Lý-Ngọc-Thơ) (10-8-1927)

Bài thơ ngày nay tôi còn cất kỹ, chữ viết của cô Chín, mỗi lần thấy, mỗi ngậm ngùi. Rõ là một bài thơ khẩu khí “ngàn năm bạc mạng”, và đáng kể nhứt là bài tự thán ấy, cô say cô khóc, cô làm tại căn phố trệt số 65 đường Bonard cũ, nay phố vẫn còn nhưng lọt trong hẻm hẹp gần nhà thương thí Chợ Sài-Gòn. Cô Chín ca hay, có chút nhan sắc. Khi gặp tôi đêm 10-8-1927, thì cô đã trải qua biết bao tay cò-mi, bác-sĩ, thơ-ký, và bọn công-tử không làm gì hết và chỉ biết phá đời con gái...; chính cô can đảm, tiếc mình không còn đủ trong sạch nên khước từ không nói chuyện kết tóc trăm năm với tên “thơ-sanh-ở-trọ, ngủ-ghế-bố, gàn-gàn” nầy. Lối 1931, tôi trở lên Sài-Gòn, còn gặp lại cô Chín: cô cười tha thứ, hai đứa mừng mừng tủi tủi, cô thì nhan sắc đã xuống, trở nên người thất tình, bất đắc chí, khùng ba trợn, khi khóc khi reo cười, không bạn cũ nào dám nhìn...; còn tôi, trong túi không tiền, không đủ can đảm gánh thêm cái khổ của cô, tôi cũng là một thằng đểu khác...

Luôn đây tôi chép một bài thơ chữ của một khách si tình, mến nhớ cô Chín, làm vào một đêm khuya mưa gió năm 1927:

Nhứt điểm tàn đăng nhứt phiến tình,

Cô phòng đối ảnh bạn thâm canh.

Phù trầm lân tự chung kình hưởng,

Ai oán đông tường độc điểu thinh.

Nguyệt chiếu mãn song vân tán loạn,

Nhơn sầu bán chẩm lệ lưu thanh.

Tâm tư vô hạng tùy nhơn thức,

Dạ...(1) bồi hồi ức Quế-Anh.

Bài thơ chữ ấy, cũng chính tác-giả dịch ra nôm như sau:

Một bóng đèn khuya một tấm tình,

Ngồi than với bóng suốt năm canh.

Bên chùa vẳng tiếng chuông kình động,

Ngoài cửa kêu sầu giọng điểu oanh.

Trăng giọi đầy sân mây kéo gượng,

Người buồn nửa gối lụy tròng đoanh.

Nỗi niềm biết kể cùng ai nhỉ?

Ngơ ngẩn canh dài vắng Quế-Anh.

Hai chữ “ngơ ngẩn” ở đây thế cho tên của tác-giả, muốn giấu, và tứ thơ chưa cạn, ông còn làm thêm được hai bài nữa, cũng để nhớ Cô Chín Ênh.

Đề._ Kìa lau ngọn gió thổi hiu,

Biết đâu mưa sớm nắng chiều là đâu?

Hẹn gió thề trăng bẻ chữ đồng,

Một ngờ, hai giận, bốn ba trông.

Mấy năm tình-tự dồn dài-dặc,

Nửa gánh tương-tư quảy nặng gồng.

Thương cũng ơn lòng, thôi cũng đội,

Oan thì chịu tiếng, miếng thì không.

Mưa du giọt lệ tràn lai láng,

Biển lấp sầu un núi chập chồng.

Nhứt dạ tri tình hỡi Quế-Anh,

Bỗng lòng ái truất lảng không đành.

Xót phần bồ liễu phần nên bạc,

Tủi kiếp phù hoa kiếp rất mành.

Tài sắc mà chi trời ghét bỏ,

Gió trăng cho phải nhụy tan tành.

Trần oan sạch ắt là xương trắng.

E nỗi không người phát cỏ xanh.

Trong tập thơ của tôi, Chín đã sửa một bài, nay đọc lại y như lời khóc trước cho thân phận của mình sau nầy:

Đen bạc xưa nay cái thế tình,

Nghĩ càng ngán ngẩm một đời mình.

Tài hoa chưa có người vun bén,

Bạc mạng đành không kẻ giữ gìn.

Chín suối đã cam phai tuyết giá,

Trên mồ còn lạnh đám rêu xanh.

Trăm năm đâu rõ tình ngang trái,

Rõ đấng hồng nhan vắng tể khanh.

Cũng trong tập, tôi có một bài bốn câu, làm trước lúc còn học trong trường; bốn chữ đầu “Nguyệt-Giang Vương-Hồng”, Nguyệt-Giang là tên chữ do đức Minh-Mạng dịch hai chữ “Sông Trăng” tức “Sốc-Trăng” quê cũ:

Nguyệt khuyết rồi ra có thuở tròn,

Giang-hồ cốt cách phận con con.

Vương-hầu mặc kẻ say mùi tục,

Hồng tía trăm hoa chuộng sắc son.

V.H.S.

Đó là một bài nhỏ, tôi làm ý như tự thuật, Cô viết nối theo, họa luôn trong tập, và chép luôn cho tôi:

Nguyệt áng mây che ẩn bóng hình.

Giang-hồ đau đớn lúc linh đinh.

Vương sầu xiết kể lòng ta thảm

Hồng phấn phiêu lưu ngán nỗi tình.

T.Q.A.

Chớ chi cô bớt giọng đoạn trường họa may còn sống đến nay cũng chưa biết được. Người nào đã biết Cô Chín, đọc mấy trang nầy, sẽ nghĩ sao? Tôi không muốn khóc tỷ tê và không có quyền đem tâm sự phơi bày trong một tập hồi ký sẽ in thành sách. Duy phải nói kẻo nặng bên lòng: Sở dĩ hai tôi không thành bạn trăm năm là tại Cô Chín cao thượng, “đã hư rồi” cô không muốn làm “hư” một người thứ nhì. Nay TÔI VẪN HƯ, còn cô đã thác, thân thể chôn vùi đất tạm, ngày nay e đã bị hốt cốt hay nấm mộ sang bằng. Tôi có mấy hàng khóc muộn. Xin cô biết cho.

(Có người nói Cô Chín chết và chôn ở Miền Trung?)

Qua được truông trước còn truông sau. Cũng lối những năm đó, tôi thường vô trong Chợ-Lớn, xem nơi rạp Ciné Eden, đường Tổng-đốc Phương, quen gọi rạp Tư Dái, nay đã phá cất lại mới đẹp hơn, tức rạp Lê Ngọc, 102 đường Tổng-đốc Phương ngày nay. Thuở ấy, thường có gánh hát thầy Năm Tú hoặc gánh Văn-Hý-Ban của Thầy Mười Vui diễn tại đây. Một đêm, tình cờ hay ba sanh hữu hạnh, tôi mua giấy hạng nhứt, hàng ghế thứ ba thứ tư gì đó, khiến tôi được ngồi gần một cô nữ sinh rất đẹp, mặc áo tím than y như màu đồng phục lớp đó của trường nữ Gia-Long. Sau rõ lại, Trời-Phật-Thánh-Thần ôi, đó là Cô Năm PH.. Lúc ấy cô nghỉ hát ở Mỹ-Tho vì rã gánh, vì vậy cô lên Chợ-Lớn, - theo lời cô nói, - “xem người ta diễn mà học thêm.” Bữa ấy, trong túi tôi chỉ còn không tới NĂM ĐỒNG BẠC, và bịnh mê Cô Hai Mão trở lại với tôi, kỳ nầy còn dữ gấp bội và bồng bột hơn trước nhiều. Tôi có chiếc áo mưa xấu xí, (đâu có dè gặp như vầy mà mượn đồ vía), thoạt có một mụ già chen vô ngồi ghế bên cạnh, tôi bối rối với chiếc áo kềnh càng, cô áo tím cười đồng lõa và tự tay kéo chiếc áo đặt lên đùi hai đứa, tôi mừng không biết lấy gì mà so sánh, rồi hai đứa có cảm tình với nhau từ phút ấy. Mỗi lần hạ màn, chúng tôi ngó nhau thông cảm. Cô hỏi tôi về lớp màn rồi, tôi vừa khớp vừa run nhưng xem chừng những câu tôi trả lời được cô tán đồng. Vãn hát, tôi không dám mở hơi ướm một lời nào vì tôi nhớ chỉ còn NĂM ĐỒNG trong túi. Ra rạp, cô bao tôi một chén hột gà chưng, tôi ngồi húp mà rán cầm nước mắt, giận mình không có tiền nhiều để mời người đẹp và HƯ cho đến đỗi để cho đàn bà “bao một chén hột gà chưng”! Tôi khốn nạn đến không dám lấy ví ra trả tiền sợ thằng chệc bán lục-tàu-chúc và cô ngó thấy. Cô còn muốn gì thêm nữa mà tôi vì có tánh nhút nhát đã để mất cơ hội tốt. Hai tôi thả bách bộ không biết độ bao lâu, tôi muốn đưa cô một đỗi đường, nhưng cô từ chối không cho biết nhà,... kế chia tay. Từ ấy ngày nhớ đêm trông, ban ngày tôi đi làm, lê thân xác vào sở mà hồn gởi đâu đâu. Bỗng được tin cô hát trong Chợ-Lớn. Tôi mượn anh em được năm đồng bạc, đi xe điện vô Chợ-Lớn tiền xe tốn một cắc bạc, mua vé thượng hạng vô cửa một đồng hai bạc, rồi vãn hát tôi lội bộ từ đường Tổng-đốc Phương Chợ-Lớn về phố trọ 65 đường Bonard Sài-Gòn, sung sướng như lên mây, vì thấy mặt nàng tiên mơ tưởng. Gánh hát cô dời vô diễn trong Gia-Định, tôi lại nhịn ăn sáng, nhín tiền để tối tối thả bộ dọc theo đường xe điễn vô chợ Bà-Chiểu xem cô diễn. Một hôm được gặp nhau. Tôi bặm môi đút đơn xin ký tờ công-tra trăm năm thiệt thọ. Cô cười: “Anh ăn lương TÁM CHỤC, không đủ tôi mua phấn! Rồi vì nghèo ở đời mãi với nhau sao được? Chỉ làm đau lòng nhau, làm khổ cho nhau. Thà làm tình như vầy, được ngày nào hay ngày nấy.”

Trước năm đảo chánh (1945) tôi được gặp một lần nữa tại tỉnh nhà Sốc-Trăng, thì cô đang đi cho gánh quốc-gia kịch đoàn, có Biểu-Chánh Hồ-Văn-Trung làm bầu và một cò-mi theo làm kỳ-đà. Cô bất chấp. Nhựt-Bổn địa-phương mời cô xem chớp bóng lộ thiên diễn lớp thời sự toàn-quyền Decoux đầu hàng. Cô ngồi ghế danh dự, tôi được sắp ngồi kế bên cô: cô đã thay mấy đời chồng, tôi trải qua hai đời vợ... Trên màn ảnh Decoux quì gối, cô day mặt qua tôi để nhắc mối tình hai-mươi-hai năm trước. Đêm ấy tôi về không nhắm mắt, thầm tiếc mãi người đẹp và mối duyên sụt sè. Rồi sau đó, cô càng nổi danh... tôi thì gia-đình tan rã một lần nữa, thân trở lại “đi làm công” như xưa! Tôi vì tự cao không bước đến nhà đường d’Ayot, mà cũng vì ghen không nhằm chỗ... Bỗng hay tin đột ngột người đẹp vì bạo bịnh, ra đi vĩnh viễn đương độ xuân thời. Tôi không đưa được nửa tấc đường cũng không niệm được nửa nén nhang. Mỗi lần có việc đi ngang nghĩa-địa đô-thành, tôi đều liếc chừng nơi góc phía có cô nằm mà cô mấy biết? Lời cô cười và thốt năm nào: “ĐỒNG LƯƠNG ANH TÁM CHỤC...” tôi ghi mãi tâm can. Gái đẹp đa tình như cô, coi vậy mà thấy xa. Tôi có tánh chần chờ do dự mà đã bỏ qua cơ hội duy nhứt. Tôi lại không đủ can đảm để nắm tay gái hữu ý. Cô tưởng cô tha cho tôi để tôi hưởng toàn hạnh-phúc. Cô nào dè cái số của tôi “hạnh-phúc chỉ thấy tự đàng xa.” Nay cô nằm yên nơi đó mà tôi còn phải vật lộn với đời đến bao lâu nữa? Cô để thương để tiếc cho tôi, mà thà vậy, còn hơn gần nhau chi đặng rồi thấy chiếc bội-tinh, bề trái!!!

Tôi viết tới mấy chữ “bội tinh bề trái” thấy khuya xếp tập đi nghỉ, và định sáng ngày sẽ viết qua chuyện gánh hát khác, nhưng kế mơ màng thấy như thiếu thiếu chút nợ gì đối với người tài-nữ “từng bao tôi ăn hột gà chưng”, và suốt đời chỉ biết thương nhau suông qua cái tình “hột gà còn trong vỏ”. Sáng ngày tôi có mấy hàng lê-thê như sau và xin phép độc giả cho tôi dùng tiếng Tây: “Pour moi Seul”.

Sáng sớm chưa kịp ăn sáng, tôi lục các tài-liệu thuộc về tiểu-sử Cô Năm, cắt trong các báo để dành bấy nay, tôi đọc:

Năm Phỉ, người gầy trong bộ y phục Trung-Hoa lộng lẫy, đang quì lết đầu gối lại gần... vua, Bảy Nhiêu sắm vai vua và Năm Phỉ sắm vai Bàng Quí-Phi... mấy chục năm đã qua, tôi còn trông thấy rõ rệt từng điệu bộ của Năm Phỉ mắt đầy lệ và cái giọng vô cùng áo não khàn khàn đang ca Tứ-đại-oán: “ối thôi! mau liều cái thân nầy... nhắm mắt cho qua...!” Năm Phỉ, Bảy Nhiêu đã sang Paris và các báo chí Pháp hồi đó hết sức ca ngợi. Thật là một thiên tài, có lẽ còn lâu ta mới thấy xuất hiện một người để so sánh.

(Bác-sĩ Anh-Tuấn, báo Ngôn-Luận, số 2324, 18-9-1962)

Tôi xếp tập hồ sơ, lật qua tập khác, thấy có người “nịnh” hơn, tôn một cô đào nhỏ có huy chương vàng gánh Thanh-Minh Thanh-Nga cho rằng tương đương cô Năm Phỉ? Tôi dẹp, dẹp một bên, và xô tập nầy ra góc bàn. Tra cứu đến tám giờ sáng, gặp bài cũ trong báo Tiếng Dội ngày 28-10-1948 của ông Kiều-Quốc-Sĩ, ông nầy viết:

Cô đào hát có thân hình đúng hai chữ “bồ liễu” nhứt, ngoài cô Năm Phỉ, tưởng chẳng còn ai (Đến đây tôi chịu. S). Cô Năm Phỉ, thật ra không phải là một người đẹp(1) nhưng vẻ tha thướt ẻo lả duyên dáng của cô là một quyến rũ say đắm nửa tiên nửa tục cho ai là người đã xem cô hát, đã được gần gũi quen biết với cô.

Đọc vừa đến đây tôi tức quá, xếp tập hồ sơ này lại, lật đật viết lẹ kẻo ý bay mất. Ai đời cái người mình đang tôn thờ trong trí mê khoái và trong mắt si tình rằng đó là thần tượng sống năm 1923-1944 của ái tình thơ-mộng, đẹp như vậy thôi chớ muốn đẹp làm sao nữa, đẹp chưa thấy ai hơn, với mình là như vậy, thế mà có người nay dám nói: “Không phải là một người đẹp...”. Tôi biết đây là một lối hành văn xảo “vừa hạ xuống nơi đoạn trên kế tôn lên nổi phồng nơi đoạn kế”, vừa nổi cho Cô Năm vừa nổi cho ông tác-giả, nhưng tôi vẫn không chịu, vì thử xem kỹ lại các em của cô, nào Bảy, nào Chín, nào Mười, có ai đẹp hơn nhứt là có duyên hơn cô Năm? Hễ cái gì không phải của mình là thua, là không bằng cái của mình có, dẫu có trong một lúc? Phải vậy không, ông Kiều-Quốc-Sĩ?

Tôi thú thật, đàn bà V.N. đẹp như cô Năm là nhứt hạng rồi, nhứt là theo tôi, cô có cái giọng đặc biệt tình tứ, chẳng những mỗi lần rơi nước mắt đủ trôi Tây, Chệc về xứ, mà đối với người Việt ta, nếu cô khóc đủ có người thục kết và “ủ tờ” (tôi nói cho tôi, cựu thơ-ký phát ngân tỉnh Sa-Đéc). Sau cơn nguôi ngoai, tôi đọc tiếp bài của K.Q.S. thấy mình giận bậy, nhìn nhận có nhiều đoạn đúng với sự thật nên xin mạn phép K.Q.S. chép ra đây luôn làm pho tài-liệu về Cô Năm:

Cô Năm Phỉ, một thiên tài. Từ “Cô đào....... quen biết với cô” (xem đoạn trước, đã trình rồi)........ “một tấm thân mảnh khảnh, nhỏ người nhưng không ốm yếu, với một đài trán chứa đựng một thông minh không bờ bến, với đôi mắt sáng ấp ủ cả một trời thanh thú, cô là hiện thân của tình tứ, của mơ say, của một tâm hồn nghệ-sĩ. Còn một đặc điểm khiến người ta phải để ý đến cô là trái với các cô đào khác nổi tiếng, cô có một giọng khàn khàn, có phải giọng đồng chăng? – như mệt nhọc, như nghẹn ngào, như tức tưởi, nên nghệ thuật của cô thêm một ý-vị đậm đà tha thiết.

Sang Văn-Hí-Ban. Bước thứ nhì sang Văn-Hí-Ban của thầy Mười Vui, Chợ-Lớn, tài cô mới rạng dần. Tuy nhiên, nghệ thuật của cô vẫn còn theo lề lối cũ, chưa thoát chỗ tự do phát triển và chưa đủ điều kiện phát huy thiên tài cô được hoàn toàn. Những vở tuồng cô đóng với Bộ Thế như Triệu-Kinh-Nương (đưa Khuông-Dẫn) chẳng hạn, ngày nay, không có mấy người nhắc đến.

Nầy, hãy xem cô bước. Ra chào đời, cô ở trong một gia đình công chức đông con ở tỉnh Mỹ-Tho, nơi sản xuất nhiều nghệ sĩ anh tài cho sân khấu. Những anh em của cô đều được đi học ít nhiều, hoặc để giữ nề nếp công chức như cha, hoặc để phát huy tài năng theo sở đắc, chỉ có cô, hại thay, cô vẫn ấm ức với bịnh mù chữ nó theo cô từ nhỏ đến lớn(1) và gây nhiều ảnh hưởng tai hại cho nghệ thuật sân khấu của cô. Nhưng trời đã bù lại cho cô có một thiên tư một thông minh mà hầu hết giới sân khấu chưa dễ có người bì kịp. Nên cô đã thành công, đã nổi tiếng, âu cũng là... “thiên lý dĩ nhiên” vậy.

..... qua sân khấu. Năm cô 13 tuổi, phong trào ca hát ở Vĩnh-Long (gánh thầy Phó Mười-Hai), ở Sa-Đéc (gánh Thầy Thận) vang dội đến Mỹ-Tho. Cô liền theo tiếng gọi thiêng liêng của tâm hồn, bước vào sân khấu của Nam-Đồng-Ban, do anh em thợ bạc tại tỉnh lập nên.

“Bước đầu ở Nam-Đồng-Ban, ngôi sao của cô chưa sáng tỏ lắm, vì cạnh cô, còn có một thiên tài, mà bây giờ nhắc đến, ai có dịp thưởng thức qua, đều ngậm ngùi thương tiếc. Ấy là kép Hai Giỏi, huống chi còn có Ba Du, một anh hề, mà lúc ấy đêm nào không có Du là khán giả đòi trả giấy?

Hai Giỏi! Hai Giỏi! Trong tất cả kép hát, có lẽ chỉ có Giỏi là đẹp trai, có số đào hoa và có một giọng ca não nùng nhứt! (Nghệ-sĩ sân khấu bấy giờ, ca hay là một giá-trị đặc biệt.) Khốn thay, như Rudolph Valentino, vào hồi 18 tuổi thì anh mất. Anh chết đi, để lại bao nhiêu ngậm ngùi cho người yêu mến anh mà cũng để nhường cho một bạn gái một thiên tài như anh, có dịp... được nẩy nở và rộng bước tiến lên. Ấy là Cô Năm Phỉ.

........ vào lầu đài danh vọng Phước-Cương. Cơ hội, đối với cuộc thăng trầm của mỗi nghệ sĩ thật vô cùng quan hệ. Cơ hội đến với Cô Năm Phỉ là một cơ hội hãn hữu đưa cô lên đài vinh quang. Người đóng vai tuồng quan hệ trong nghệ thuật sân khấu của Cô là ông Nguyễn-Ngọc-Cương.

“Bước thứ ba của Cô, nhờ lấy trớn ở Văn-Hí-Ban, đã đưa Cô vào một lâu đài – không phải kim cương – mà là nơi Cô có đủ điều kiện phát triển hết năng lực súc tích từ lâu.

Ông Nguyễn-Ngọc-Cương đã dùng Cô đúng với sở-trường của Cô, ngoài ra ông còn tận lực tìm hết cách phát huy cái tài vô song của Cô.

Huống chi quanh Cô Năm, còn bao phủ một vòng những ngôi sao đang thời tỏ rạng như: Bảy Nhiêu, Tám Danh, Ba Du, Tám Mẹo, Ba Vân, v.v... một lực lượng vô song sẵn sàng nưng đỡ cô tiến đến nấc thang tuyệt vời của danh vọng. Nào đã ngưng bước ở gánh Phước Cương đâu, Cô còn bước. Phen nầy Cô bước chung với Cô Phùng-Há ở ban Phi-Phụng, một tượng trưng của hai phụng giao đầu. Thêm một nhóm hữu tài phụ họa: Tư Út, Hai Tiền, Chín Móm, v.v... Nhưng hai Phụng không thể giao đầu được mãi, nên Cô bước thêm một bước khác, Đại-Phước-Cương, với cuộc tổng hợp nghệ sĩ: Năm Châu, Bảy Nhiêu, Từ Anh, Ba Vân, Ba Du, v.v...

Bước đến đây, Cô thấy có thể tạo cho mình một cảnh sống mới, nên Cô đơn thân điều khiển ban Nam-Phi với Tư Út, Tám Mẹo, Duy-Lân, Bảy Nhỏ. Đây là một bước sang ngang, đem lại cho Cô nhiều phần vững chắc ở địa-vị kịch trường.

Gần đây Cô có sản xuất một công trình mới, – đoàn ca vũ Nam Phi, – chưa có tiếng dội và ảnh hưởng khả quan nào, còn chờ thời gian định đoạt.

Từ những ngón vô song. Người ta bảo cô Năm Phỉ là hiện thân của sự đau khổ. Lời nói ấy tuy không đúng lắm, nhưng cũng tượng trưng được sở trường của cô, vì kịch phẩm là phản ảnh của tâm hồn. Tâm hồn cô là tâm hồn của kẻ si tình đắm đuối có thể bỏ tất cả để thỏa mãn lòng yêu từ sân khấu đến cuộc đời. Cô áp dụng lòng yêu chan chứa trong tất cả vai tuồng thích ứng với tài năng Cô. Thêm vào đó cái thiên tài trời riêng phú cho Cô, Cô đã tạo được nhiều kịch phẩm bất hủ. Về ai oán não nùng, trong Tơ vương đến thác, Lan và Điệp, Bàng-Quí-Phi, đường bệ, trang hoàng, đài các, như Túy-Hoa vương-nữ, bà huyện trong Vì đâu nên nỗi?, lả lướt quyến rũ, đắm say như trong Sắc giết người, Phụng-Nghi-Đình, và thông minh ngớ ngẩn như vai Mọi trong Đóa hoa rừng. Cô Năm Phỉ là người đóng nhiều vai tuồng, khó cho ai thay thế nhứt.

Sở trường của Cô luôn luôn biểu dương trong các vai tuồng chan chứa niềm yêu, tình cảm là nỗi éo le chua xót của cõi lòng. Ta thử nhận thức cái hay trong vai Bàng Quí-Phi, một vai tuồng sở đắc (1) của Cô, đã từng làm cho khán giả ở Ba-Lê mềm lòng và sụt sùi khóc. (Lời của báo Intransigeant phê bình trong dịp Phước-Cương đi dự cuộc đấu xảo ở Pháp năm 1931).

Cô Năm Phỉ trong vai Bàng Quí-Phi, một bà hoàng diễm lệ, thướt tha, đa tình, bị xử tử hình vì giữ hiếu bỏ trung.

Trong màn nhà vua vào cung vấn tội, cô đã biểu dương vẻ quyến rủ, mê say một cách tuyệt vời. Khi khẩn cầu tha thiết, khi tức tưởi nghẹn ngào, khi dọa hủy mình lúc nhận biết nhà vua vẫn một lòng yêu quí. Mỗi màn mỗi sắc biến đổi tự nhiên làm sống lại trang tình sử trong thâm cung ai oán. Đến màn Địch Thái-hậu công đồng xử án, thì từ những vẻ âu lo, sợ hãi khi lịnh trên kể tội, nét thất sắc khi nghe lịnh xử tam ban triều điển, toàn thân run lẩy bẩy, đôi mắt mờ lệ nhìn vào bổn án vua phê, đến nỗi... thất vọng hoàn toàn, là một nghệ thuật vô cùng điêu luyện.

Cái hay của cô Năm Phỉ trong vai tuồng ấy là cô đã thành thật sống, sống hoàn toàn với tâm hồn và tình cảm với người xưa.

Đến một vài lầm lỡ. Ca không đúng nhịp, học chẳng thuộc tuồng, tập dượt cẩu thả là những lầm lỡ của cô Năm Phỉ, nếu ở vào một cô đào khác sẽ thành những tai hại gớm ghê, nhưng với cô, đó chỉ là một đường tơ vụng dại không làm giảm bớt nét yêu kiều của bức tranh tố-nữ.

Cô có những cái hay xuất chúng, làm kinh ngạc mọi người, vì cô không còn là cô nữa mà là hiện thân của vai tuồng cô đóng trong những giờ trên sân khấu. Nhưng chỉ với những vai tuồng thích ứng với tài năng cô thôi, trái lại cô sẽ bừa bãi, bối rối đến lố lăng khi gặp phải vai tuồng không hứng thú, không rung động được lòng cô, không làm cô say mê đến xuất thần trong màu sắc.

Một phần thưởng tinh thần. Nghệ-thuật của cô Năm Phỉ là một nghệ-thuật thuần tình cảm. Từ nay cho đến ngày cô vắng bóng trên kịch trường, một danh dự cao quí nhứt của cô là cô chiếm giữ được cảm tình nồng hậu, một hoài tưởng êm dịu trong lòng của khán giả tứ phương.

(Kiều-Quốc-Sĩ, trong báo Tiếng Dội, ngày 28-10-1948).

Bài trích lục dài, đọc hấp dẫn; tôi muốn giữ toàn bích, không cắt xén đoạn nào, để độc giả lấy công tâm nhận xét. Trước khi dứt qua chuyện khác, tôi xin ông Kiều-Quốc-Sĩ miễn chấp đã dám “ngầy ngà” sao ông dám chê pho thần tượng không xinh đẹp, và luôn tiện cũng xin chư độc giả tha thứ cái tật dài dòng của tôi và sẵn đây, xin vong hồn người khuất mặt biết cho. Năm nào, đã lâu lắm rồi, tôi đi xem ciné khuya ở rạp Majestic Catinat, gặp Cô đi với em gái Cô, còn tôi lại đi với người khác, không phải vợ nhà. Cô ngó tôi như với cặp mắt la dame aux camélias, khi nhận lời cha của Armand Duval nên xa nhau mà đứt ruột, còn tôi tôi lấm lét vì có thúng đâu tại đó hầu úp cái lỗi tày đình, vả chăng tôi cũng không biết độn thổ...

(Viết thêm sáng 12-11-1966) V.H.S.

Văn-Hí-Ban. Cùng một lượt với gánh Thầy Năm Tú, có gánh Văn-Hí-Ban của Thầy Mười Vui (Chợ-Lớn) chuyên môn hát tuồng Tàu. Trong gánh có kép Tư Thạch, buổi ấy tôi chấm là “nghề riêng ăn đứt” những bài oán, như Tứ-đại, Văn-Thiên-Tường, nhưng sau rõ lại, khi đọc loạt bài của anh Bảy Nhiêu, thì Thạch còn nhường sư-bá là Ba Lễ, một nghệ-sĩ ca tài-tử mà theo tự thuật B.N. đáng tôn làm thầy cho nhiều thế hệ ca sĩ.

Cô Hai Xiêm, Năm Thiên, Cô Hai Nữ, gánh Sống Chung, Cô Bảy Phùng-Há. Cũng gánh Văn-Hí-Ban nầy, có cô Hai Xiêm, gốc ở bên hát bội, nay sang qua cải-lương đầu quân gánh Văn-Hí, thủ vai Bạch Thu-Hà, múa theo hát bội và ca theo cải-lương nên thuở ấy ai ai cũng cho là xuất sắc. Tôi nhớ lúc ấy kép Năm Thiên đóng cặp với cô Hai Xiêm thủ vai chánh coi được đến. Cớ sao nay anh Năm lại lu mờ trong gánh Sống Chung? Cô Hai Nữ, lúc đó làm vai tỷ tất lau mặt cho kép Dương-Tôn-Bảo trong tuồng Mộc-Quế-Anh dâng cây cũng là duyên dáng lắm. Còn nói gì Cô Bảy Phùng-Há lúc ấy đóng vai Mộc-Quế-Anh thì ai ai cũng mê, ý là lúc ấy Cô Bảy còn nhà quê ệt! Nhưng khi cô trong buồng bước ra cất tiếng trong-trẻo nói lối:

“Mộc-cát-trại một mình làm chủ, nhóm lâu la trên đảnh tung hoành, Cha Phiên-Vương Mộc Võ là danh, thiếp Mộc-thị Quế-Anh là hiệu. Sức cử đảnh Hạng-Vương còn thiếu, (chớ) Võ đề thương đủ lực bạt san (?) Phi-đao phép quí tiên truyền, xạ tiễn nghề hay quỉ sợ mà! Than ôi! Bởi chưa gặp ai người quân tử (?) Nên đành cam an thú với chí hùng? Ngày hôm nay vùng vẫy với non sông, nguồn tâm sự bạn cùng cây cỏ.

Tiếp ca vọng cổ:

“Toại lòng cao-sơn lưu thủy, Minh nguyệt phỉ chí với thanh phong. Thung dung nước trí với non Bồng, Trời chưa thâu dụng nữ hùng. Trước sân tuyết điểm bá tùng, khi diễn võ khi thì ta lại thưởng hoa. Cũng vì trời sanh ta là phận gái, đâu có biết anh hùng trong bốn biển là ai? Bởi vậy cho nên ta cố ý xưng vương nơi sơn trại...”

(Bài này còn thiếu và không dám chắc đúng với nguyên văn; xin nhờ cao minh chỉ giáo): Cô Bảy nói lối rồi tiếp ca bài nầy, thì tôi tưởng lúc ấy ai cũng như tôi, đều nín thở và thầm khen cô đào nào đây nhan sắc và tài nghệ tuyệt trần.

Năm 1924. Để thấy cái ngông cái gàn của kẻ nầy, xin nhắc một việc cũ nay nhớ mà còn thẹn thẹn. Quả không có cái gì mà tôi không muốn không ham. Thậm chí tiền không có, bề thế cũng không mà đèo bòng nhiều việc lếu. Ngày mồng một tháng ba d. l. 1924, tôi đi xem hát cải lương tại rạp Modern đường d’Espagne Sài-Gòn. Lá lay tôi được ngồi gần cô Ba Trà, lúc ấy đang sáng chói trong tiền, trong nhan sắc và sắm xe hơi có tài-xế phụ, để dành mở cửa. Cô Ba ngồi một dãy ghế thượng hạng với bác-sĩ Trinh, Tòa Tỷ và Sáu Ngọ. Trớ trêu thay, bên tay mặt và sát ghế cô là ghế của kẻ nầy. Cô ngồi xem mà mùi nước hoa làm tôi ngây ngất và khi nửa chừng cô ra về, tôi hết biết trên sân khấu hát ca những gì và khi về nhà, tôi thức trắng đêm để đặt bài nầy, nay chép ra đây cho thấy cái càn rỡ của tuổi xuân hiếu sắc:

Xem cải-lương ngộ mỹ-nữ (cô Ba Trà)

Duyên kỳ ngộ gặp nàng quốc sắc,

Khách đa tình ngó mắt quên nheo!

Mới đây sao lại như bèo?

Gió de vừa sát, gặp chèo kế dang.

Tệ chi bấy! Ớ nàng mặt ngọc,

Khách cô phòng trằn trọc năm canh

Căn duyên sao có mảnh mành,

Chưa vui sum hiệp đã đành chia phui!

Nàng tháo bước, ta ngùi ngùi thảm,

Khách lui chơn, đây dám ướm lời:

“Phiền cô tiện đó ngồi chơi,

“Cho đây xem thỏa, sắc trời phải chăng?

Khen cha chả! Khuôn trăng đầy đặn,

Càng nhìn lâu càng mặn nét hồng

Còn trời, còn biển, còn sông,

Còn câu tình ái, còn lòng tương tư.

Nghĩ cũng tệ sao đi không nói?

Để lại chi mấy đọi sầu phiền.

Vật đi còn chút tình riêng,

Nàng đi nàng để cho nghiêng ngửa lòng.

Lửa đã nhúm khó trông dụt tắt

Kể từ đây bặt bặt giấc tiên

Ngày sầu mấy khắc nào yên

Đêm trông canh lụn càng điên đảo lòng!

Than ôi, đã sa dòng biển ái,

Dễ gì toan trở lại non nhơn?

Lòng thương lòng lại há sờn,

Dẫu mòn bia đá khó khờn lòng thương...

1-3-1924

Cái ngông còn chưa chịu buông tha, tiền thì trong túi vắng hoe, mà dư thừa thơ thổng. Vô sở làm, ở Trường Máy, đường Đỗ-Hữu-Vị, trọn một tuần lễ, bỏ phế hết tất cả mọi việc, rán è ạch bôi sửa đặt thêm một bài thơ bát cú mà không dám gởi, chỉ cất trong cặp cho đến ngày nay:

Mỉm miệng cười duyên đóa hải đường,

Xui lòng thi khách biết bao thương

Dịu dàng má đỏ đào ghen thắm,

Yễu điệu mình mai liễu kém nhường.

Ngọc tốt Lam – điền ai nại giá,

Hoa tươi Thượng-Uyển nực mùi hương.

Cất xong Đồng-Tước chờ tiên nữ,

Nhắn với ai kia chớ gọi thường.

Thơ rồi để đó, lo đi cưới vợ. Cô Ba Trà vụt vụt lên như diều gặp gió, lên xe xuống ngựa mấy chục năm trường. Tôi thì một rương sách một túi áo quần, để sau còn đùm đề ba cái đồ sành ưa bể, Bỗng vài chục năm sau, gặp nhau lại nơi bàn tài-xỉu trong Chợ-Lớn, sau trận 1945. Cô đã mất phong độ năm nào, nhưng hỏi tôi, hỏi thấy nhan sắc cô nay kém hơn trước thế nào? Tôi trả lời: “Tôi chỉ biết “người đẹp” có hình chụp treo trong tủ kiếng nhà photo Khánh-Ký lúc còn đi học Chasseloup” và “đã khiến tôi thành thi-sĩ, xin lỗi, thành thợ thơ năm nọ”. Cô cười rồi thâu dụng tôi làm “bí thư” suốt mấy tháng trường, Cô thuật tiểu sử cho tôi lấy notes, vừa thấy hay hay, kế cô bán tài-liệu cho một ông bạn nhà văn (ông T.T.Q.) tôi không nói gì, nhưng xin ngưng chép chuyện tiểu-sử nhơi bã mía, chỉ giữ lại đến hôm nay hình bóng một người năm xưa từng vãi bừa bạc trăm bạc ngàn qua cửa sổ, nay không có đến một xu-ten để cạo gió và vẫn nuốt cơm đen kéo dài cái kiếp sống thừa không biết đến chừng nào? Nhớ một đêm nằm cạnh bàn đèn với Cô Ba, khi chị Phù-Dung đến làm bạn “ấm ấm êm êm”, bỗng thấy má cô trở nên hồng hào, lông nheo ướt ướt, mũi dọc dừa, răng còn tốt, tôi nhìn lâu bỗng sợ khan, may là tại gia đã có một ai rồi, không có ai đó, đem ai nầy về, ắt cái khổ còn ai hơn nữa! Năm xưa cô là đóa hoa, tôi là “về rác”. Cái năm gặp ở tài-xỉu, cô đã thành “về rác”, nhưng thà tôi trôi cô-ky, không muốn kết thành bè. Tuy vậy bụng vẫn tiếc, vì bất quá là bá quất, chớ chi hai về rác gặp nhau sớm, ráp lại với nhau, biết đâu chừng biển Đông sẽ áng bóng? Không chi cũng biết mùi la dame aux camélias Nam-Việt.

1926. Gánh Phước-Cương. Năm 1926, gánh Phước-Cương lên hát rạp Sài-Gòn: kép Bảy Nhiêu làm Tống Chơn-Tôn, Cô Năm Phỉ thủ vai Bàng Quí-Phi, hay đến đỗi Chánh-Phủ gởi cả đôi sang Pháp diễn tại Paris dịp đấu xảo năm 1931, ăn khách suốt mấy tháng trường, tuy khán giả lang-sa không hiểu nổi một câu bịn rịn hay câu vọng-cổ muồi, và chỉ hiểu qua màu mè bộ tịch của đào kép.

Tôi còn giữ được một tấm chương trình gánh Phước-Cương diễn truyện Thuyết Đường, vợ Ngũ-Vân-Thiệu bị tên, Bảy Nhiêu bỏ làm Vân-Thiệu, Giả-thị do Cô Năm Phỉ đóng, hỉ nộ ai oán đủ điều (tài-liệu số 209 Hồi-ký tập II).

Giá chỗ ngồi:

Hạng nhứt ...................... 1 đồng

Hạng nhì......................... 0,60 (sáu cắc)

Hạng ba.......................... 0,30 (ba cắc bạc)

1943. Bẵng đi một khoảng dài, tôi đổi về Sa-Đéc (1928-1932) Sốc-Trăng (1932-1936) và Cần-Thơ (1936-1943), tuy vẫn xem hát như cũ nhưng không gặp chuyện nào gay cấn, cũng những tuồng cũ diễn đi diễn lại. Năm 1943 tôi đổi trở lại Sài-Gòn thì lính Nhựt-Bổn đầy đường. Đêm thứ thư 13-1-1943, tại rạp Nguyễn-Văn-Hảo, có hát Đại-Hội chư ban, theo chương trình tôi hiện có (số 210 Phụ-lục Hồi-ký tập II) đủ mặt kép đào danh tiếng:

Cô Năm Phỉ và Tám Mẹo, Năm Định .....................gánh Nam-Phi

Bảy-Nhiêu.......................................................... gánhNam Phương

Cô Thanh-Tùng................................................... gánh Thanh-Tùng

Tám Danh.......................................................... gánh Danh-Đàng

Cô Mười Truyền .................................................gánh Song Phụng

Cô Bảy Nam và toàn ban .....................................gánhPhước Cương

Tuồng chia làm ba lớp:

1) Vô đầu, chào Thống-chế Pétain;

2) diễn tuồng Ngọc-nữ báo phu-cừu, tuồng Tàu do hai gánh Phước-Cương và Song-Phụng đồng hợp diễn (chương-trình, Phụ-lục số 210);

3) tuồng chánh “Tứ-đổ-tường” là một tuồng ruột của gánh Phước-Cương thêm được nghệ-sĩ thượng thặng đóng lại vai cũ: phải tốt phước lắm mới dự khán được những dịp nầy: cô Năm Phỉ đóng vai người vợ hiền; Tám Danh làm anh chồng ghiền sau sa sút đến đỗi làm phu kéo xe; các vai khác chia nhau giữa các cô Tư Thanh-Tùng, Bảy Nhiêu, Tám Mẹo, Năm Định, v.v...

Giá chỗ ngồi đã tăng: 2đg, 1đg50, 1đg20, 0,70, 0,40.

1926. Nghĩa-Hiệp-Ban. Nam-Hưng-Ban. Cái năm 1926 là năm gì mà tại Sài-Gòn, cờ bạc rần rần, nhà xéc Sáu Ngọ gần như công khai, một mình lão nầy bao-thầu hai chị em Năm và Bảy, hai cô đào danh tiếng, khi vui sắm xoàn cả bụm, khi ghen đốt áo quần sạch bách và đánh hoa biết nói bằng roi mây đến rướm máu... Vua cờ bạc Sáu Ngọ lập gánh Nam-Hưng-Ban, để người đẹp (cô B.N.) làm bầu. Nhưng phần sòng me trong Chợ-Lớn bị chúng theo phá, tiền vô không được dồi-dào như trước, phần lỗ lã vì bao nhiêu tiền lấy ra hùn lập ngân-hàng Phan-Thiết bị chúng sang đoạt, rốt cuộc tình khô gánh rã và Sáu Ngọ cũng vào tù, khi ra mất mối cờ bạc và chết sạt nghiệp... đúng như lời thầy Tư Nên tiên đoán: bàn tay chỉ sanh-mạng đứt, bên tay vợ thì còn nguyên, thế là hai người cách mặt ly thân, chồng sẽ ngồi tù; người vợ nầy có tay cầm của, nếu ra tù không ở lại nhau thì chồng sạt nghiệp, quả thật S.N. ra tù, trách vợ ngoại tình, không ăn ở nhau nữa, N. đánh me đánh đâu thua đó mà nghề chủ chứa lấy xâu đã bị kẻ khác giựt từ lâu, nên con ma nghèo kéo đến trở tay không kịp. Gánh Nam-Hưng-Ban chuyên diễn tuồng tàu, N. lại ghen, nên cô đào chánh cũng là bầu B.N. chỉ đóng vai xấu xí: Chung-Vô-Diệm dạ-xoa, Đào-Tam-Xuân nửa mặt thiệt nửa mặt lọ lem, kép chánh và đào chánh cấm đứng quá gần, cấm cụp lạc cấm muồi mẫn trên sân khấu.

Cũng năm 1926, gánh Nghĩa-Hiệp-Ban của ông Nguyễn-Văn-Đẩu lập ra, chương-trình tôi còn giữ (Phụ-lục số 211 tập hồi-ký II), có Nguyễn-Công-Mạnh và Nguyễn-Trọng-Quyền làm thầy tuồng. Phần biên soạn thì vững chắc, nhưng y phục và cách trang sức kém mỹ-thuật đến gần lố lăng: kép võ đào võ mặc áo nhung cổ bẻ kiểu pyjama chung quanh viền cặp đường biên bằng lông trừu trắng toát, đầu đội khăn xếp, chơn đi giày Tàu. Thường dùng bít-tất dài nịt lên tận háng, và mặc quần đùi bắt chước cách ăn vận của phường xiệc. Anh kép chị đào nào cũng có áo choàng và tay cầm đoản đao hay trường côn. Cũng những tuồng của các gánh khác đã diễn: Anh-hùng náo tam-môn-giai, Tang-Đại giả gái, Sở Vân té lầu, Tra án Quách Hòe, Xử án Bàng Quí-Phi ..., sau rốt hát không lại các gánh lớn và rã gánh.

VƯƠNG HỒNG SỂN

Việt Báo

Comment :Một năm quan trọng đánh dấu tiền đồ cải lương: 1921-1922
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Một năm quan trọng đánh dấu tiền đồ cải lương: 1921-1922 bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Mot nam quan trong danh dau tien do cai luong 1921 1922 ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Một năm quan trọng đánh dấu tiền đồ cải lương: 1921-1922 ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
One year marks an important pre-reformed Map: 1921-1922
South Africa, South Africa, that much, Bang You, Eight Tips, She year, please excuse, theater, classical drama role, no, it's important, she dug, there is one, do, to
in my own mind, I for the year 1921-1922 is the most important new-art technology improvements for wage. In Ha Noi, the High-level students southern root-text-Tue Nguyen, Tran-ray-Show, Le-optical-Ho, Wu-text-Yi, Binh Pham-of-delegation- the-Ton, Chau-pink-Dao, ...
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h298 Cau be 11 tuoi tu tu vi ko co quan ao moi
    Thời sự 24h(29/8): Cậu bé 11 tuổi tự tử vì ko có quần áo mới

    Có một đứa trẻ 11 tuổi vừa tự tử, thưa ông Giời; Kỳ lạ thùng niêm phong tôm tiêm tạp chất, trở thành "sạch" sau 1 đêm; Bàng hoàng thanh niên tay cầm điện thoại, chết ngồi bên đường; Bệnh nhân nhiễm HIV giật kéo đe dọa bác sĩ; Quảng Nam: Loa phát thanh xã nhiễu sóng tiếng Trung Quốc

  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Thoi su 24h248 Chat xac nguoi tinh bo bao tai o Sai Gon
    Thời sự 24h(24/8): Chặt xác người tình bỏ bao tải ở Sài Gòn

    Cứu một cụ bà trong đám cháy, thiếu úy CSGT nhập viện cùng nạn nhân; Cắt điện, nước của quán cà phê Xin Chào là sai quy định; Nhiều phi công xác nhận bị chiếu đèn laser khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất; Sập hầm vàng ở Lào Cai: công bố danh tính 7 công nhân bị chết; Ẩn tình vụ vợ U60 thuê người đánh sảy thai cô giúp việc 19 tuổi

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t