vietbao

Một - Khi tôi đang ngủ (trích từ trang 9 đến trang 40)

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Quá trình làm thế giới phẳng diễn ra như thế nào?

Mot Khi toi dang ngu trich tu trang 9 den trang 40

Các Hoàng tử – những tín đồ của Đạo Cơ đốc, tôn thờ và mong muốn mở rộng niềm tin Công giáo linh thiêng, là những người chống lại giáo lý Mahomet cũng như mọi hình thức sùng bái thần tượng và dị giáo – đã quyết định cử tôi, Christopher Columbus, đi đến các miền đất của Ấn Độ để yết kiến các hoàng tử, người dân và các vùng đất ấy, để tìm hiểu tính cách của họ và cách thức phù hợp cải biến họ theo niềm tin linh thiêng của chúng ta;

đồng thời lệnh cho tôi không được đi bằng đường bộ theo hướng Đông như lệ thường mà bằng con đường phía Tây, theo hướng mà đến nay chúng ta chưa từng có bằng chứng chắc chắn nào là đã có người đi. (Trích một đoạn nhật ký của Christopher Columbus về chuyến đi năm 1492 của ông.)

Chưa ai từng chỉ hướng cho tôi như thế này trên một sân golf:

“Hãy nhắm vào Microsoft hoặc IBM.” Đó là khi tôi đứng tại điểm phát bóng của sân golf của câu lạc bộ KGA ở khu trung tâm thành phố Bangalore thuộc miền nam Ấn Độ, khi bạn chơi của tôi chỉ vào hai cao ốc bằng kính và thép bóng loáng nổi bật lên ở đằng xa ngay sau bãi cỏ đầu tiên. Cao ốc thứ ba là Goldman Sachs vẫn chưa được xây xong; nếu không ta có thể nhìn thấy một bộ ba cao ốc. Công ty HP và Texas Instrument có văn phòng ở sân phía sau, dọc theo lỗ golf thứ mười. Đó chưa phải là tất cả. Các mốc phát bóng là của công ty in Epson, một trong những cát-đi (người xách gậy) đội mũ 3M. Bên ngoài, các biển hiệu giao thông cũng do công ty Texas Instrument tài trợ. Biển quảng cáo pizza Hut trên đường trưng một miếng pizza bốc hơi phía trên dòng chữ “Các miếng gi-ga đầy Hương vị!”

Không, đây chắc chắn không phải là thành phố Kansas của Mỹ. Thậm chí nơi này không có vẻ giống Ấn Độ. Đây là Thế giới Mới, Thế giới Cũ hay Thế giới của tương lai?

Tôi đã đến Bangalore, Thung lũng Silicon của Ấn Độ, theo hành trình khám phá của riêng tôi giống như Columbus trước đây. Columbus đã đi đường biển trên các tàu Niía, Pinta, và Santa María nhằm tìm ra con đường ngắn hơn, trực tiếp hơn đến Ấn Độ theo hướng về phía Tây Đại Tây dương.

Ông gọi chuyến hành trình của mình là đường đi Đông Ấn – khác với hành trình xuống phía Đông và Nam vòng qua châu Phi mà những người khai phá Bồ Đào Nha đã đi. Ấn Độ và các Hòn đảo Gia Vị phương Đông từng nổi tiếng về vàng, ngọc, đá quý và tơ lụa – những nguồn của cải vô tận.

Tìm đường đi tắt trên biển đến Ấn Độ khi tuyến đường bộ đã bị các thế lực Hồi giáo ngăn cản là cách mang lại giàu có và thịnh vượng cho cả Columbus và vương quốc Tây Ban Nha. Rõ ràng, khi căng buồm ra khơi, Columbus đã nghĩ rằng Trái đất hình cầu. Do đó ông tin chắc rằng ông có thể đến Ấn Độ bằng cách đi về phương Tây.

Tuy nhiên, ông đã tính sai quãng đường khi nghĩ rằng trái đất là một quả cầu nhỏ hơn. Ông cũng đã không dự tính được là sẽ gặp một vùng đất rộng lớn trước khi ông đến được Đông Ấn. Ông gọi những người thổ dân ở thế giới mới là “Indian” – dân da đỏ (những người Ấn Độ). Khi trở về nước, Columbus đã tấu trình với những người đỡ đầu ông là Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella rằng mặc dù không đến được Ấn Độ nhưng ông có thể khẳng định thế giới là hình cầu.

Tôi bắt đầu đi Ấn Độ theo hướng Đông, qua thành phố Frankfurt. Tôi đi bằng máy bay của hàng không Lufthansa với vé hạng thương gia. Tôi biết chính xác hướng mình đi nhờ bản đồ định vị toàn cầu (GPS) trên màn hình gắn với ghế ngồi trên máy bay. Máy bay hạ cánh an toàn và đúng giờ.

Tôi đã gặp những người được gọi là “Indian.” Tôi cũng đi tìm nguồn của cải của Ấn Độ. Trong khi Columbus tìm phần cứng – các kim loại quý, tơ lụa và gia vị – nguồn của cải trong thời ông, thì tôi tìm phần mềm – năng lực trí óc, các thuật toán phức tạp, các công nhân tri thức, các trung tâm liên lạc (call centre), các giao thức truyền, những đột phá về kỹ thuật quang học – các nguồn của cải của thời đại hiện nay.

Khi gặp những người Anh-điêng, Columbus mừng rỡ vì có thể bắt họ làm nô lệ – một nguồn lao động thủ công. Tôi lại muốn tìm hiểu tại sao những người Ấn Độ đang cướp mất công ăn việc làm của người Mỹ, tại sao Ấn Độ lại trở thành một địa điểm quan trọng về thuê làm bên ngoài (outsourcing) về dịch vụ và việc làm công nghệ thông tin (CNTT) của Mỹ và các nước công nghiệp khác.

Columbus có đoàn tùy tùng gồm hơn một trăm người trên ba chiếc tàu của ông; tôi chỉ đi cùng một nhóm phóng viên nhỏ của kênh truyền hình Discovery Times ngồi đủ trong hai chiếc xe với các lái xe Ấn Độ đi chân trần. Khi căng buồm ra khơi, ấy là nói vậy, tôi cũng đã cho rằng thế giới là tròn, song những gì chứng kiến tại Ấn Độ thật sự đã làm lung lay niềm tin của tôi vào ý niệm đó.

Columbus tình cờ cập bến tại châu Mỹ song ông nghĩ mình đã khám phá ra Ấn Độ. Tôi đặt chân đến đất nước Ấn Độ và tin rằng có nhiều người Mỹ đang ở đây. Một số người Ấn Độ tự đặt tên giống người Mỹ, số khác ở các trung tâm thông tin bắt chước giọng Mỹ rất cừ và các kỹ thuật viên ở các phòng sản xuất phần mềm thì học kỹ thuật kinh doanh Mỹ thật nhanh.

Columbus tâu vua và hoàng hậu Tây Ban Nha rằng trái đất có hình cầu và ông đã đi vào lịch sử như người đầu tiên khám phá ra điều này. Tôi quay về nhà và chỉ dám chia sẻ sự phát hiện với vợ của tôi bằng giọng thì thầm.

“Em yêu”, tôi thủ thỉ, “anh nghĩ thế giới là phẳng.”

Tôi đã đi đến kết luận trên như thế nào? Tôi đoán là các bạn sẽ nói rằng mọi chuyện bắt đầu tại phòng họp của Nadan Nilekani tại Tập đoàn Công nghệ Infosys. Tập đoàn Infosys là một trong những công ty hàng đầu về Công nghệ thông tin của Ấn Độ, và Nilekani là Tổng Giám đốc, một trong những thuyền trưởng chín chắn và được kính trọng nhất trên con tàu công nghiệp phần mềm của Ấn Độ.

Tôi đi cùng xe với nhóm Discovery Times đến khu Infosys, mất khoảng bốn mươi phút từ trung tâm Bangalore, để thăm cơ sở và phỏng vấn Nilekani. Con đường dẫn đến khu Infosys đầy ổ gà, với những chú bò chạy lăng xăng, xe ngựa kéo và xe có động cơ cùng chen lấn sát cạnh xe chúng tôi. Tuy nhiên, khi đã bước qua cổng Infosys, bạn sẽ bước vào một thế giới hoàn toàn khác.

Một bể bơi lớn nép mình giữa các tảng đá mòn và những dải cỏ được cắt tỉa, sát kề một bãi cỏ khổng lồ như một sân golf nhỏ. Có vô số quán ăn và một câu lạc bộ sức khỏe rất tiện nghi. Các cao ốc kính-và-thép mọc lên như nấm sau cơn mưa. Trong một số cao ốc, các nhân viên Infosys đang viết các chương trình phần mềm cho các công ty của Mỹ hay châu Âu; trong các cao ốc khác, họ thực hiện công việc hậu trường của các công ty đa quốc gia lớn có trụ sở tại Mỹ và châu Âu – từ bảo dưỡng máy tính đến các đề án nghiên cứu cụ thể và trả lời các cuộc gọi của khách hàng từ khắp nơi trên thế giới.

An ninh rất nghiêm ngặt và được hỗ trợ bởi các máy quay theo dõi được gắn tại các cửa ra vào. Nếu bạn làm việc cho American Express thì bạn không thể vào các cao ốc của General Electric. Các kỹ sư Ấn Độ trẻ, nam và nữ, đeo thẻ nhận dạng lủng lẳng và đi lại hối hả từ cao ốc này sang cao ốc kia. Một anh chàng trông có vẻ như có thể giúp tôi làm thủ tục thuế, một cô nàng có thể tháo rời máy tính của tôi và cô nàng thứ ba thì làm ra vẻ như đã thiết kế ra nó!

Sau cuộc phỏng vấn, Nilekani dẫn nhóm chúng tôi dạo quanh trung tâm hội nghị toàn cầu của Infosys – nơi khởi nguồn của công nghiệp thuê làm bên ngoài của Ấn Độ. Đó là một phòng sâu hút được lát ván ô gỗ giống như một phòng học được xếp thành dãy của một trường luật hàng đầu tại Mỹ. Ở phía trước của căn phòng đặt một màn hình đồ sộ choán hết một bức tường, trên trần có gắn các máy quay để phục vụ cho hội nghị từ xa.

“Đây là phòng hội nghị của chúng tôi, màn hình kia có lẽ là màn hình lớn nhất châu Á – gồm bốn mươi màn hình nhỏ ghép lại” Nilekani chỉ lên chiếc màn hình tivi lớn nhất mà tôi từng nhìn thấy và giải thích đầy tự hào.

Ông nói: Infosys có thể sử dụng màn hình siêu cơ đó để tổ chức hội nghị từ xa có sự tham gia của những nhân vật hàng đầu trong toàn bộ chuỗi cung toàn cầu của tập đoàn để thảo luận bất cứ dự án nào, vào bất cứ thời điểm nào. Do đó, các nhà thiết kế tại Mỹ có thể trao đổi trên màn hình với những chuyên gia viết phần mềm Ấn Độ và các nhà sản xuất châu Á của họ cùng một lúc. Nilekani nói: “Chúng tôi có thể ngồi ở đây và trò chuyện trực tiếp với bất kỳ ai ở New York, London, Boston, San Francisco.

Nếu dự án được thực hiện ở Singapore thì nhân viên tại Singapore cũng trao đổi trực tiếp... Đó là toàn cầu hóa.” Phía trên màn hình có tám chiếc đồng hồ hiển thị rất tinh tế ngày làm việc của Infosys: 24/7/365 [24 giờ một ngày; 7 ngày một tuần; 365 ngày một năm]. Các đồng hồ có gắn múi giờ: miền Tây nước Mỹ, miền Đông nước Mỹ, GMT, Ấn Độ, Singapore, Hong Kong, Nhật Bản, Australia.

Nilekani giải thích: “Thuê làm bên ngoài chỉ phản ánh một chiều của quá trình thay đổi cơ bản đang diễn ra trên thế giới ngày nay. Trong những năm qua, đầu tư ồ ạt đã đổ vào lĩnh vực công nghệ, đặc biệt trong thời kỳ bong bóng của kinh tế thế giới, khi hàng trăm triệu dollar được đầu tư cho kết nối Internet băng rộng ở khắp nơi trên thế giới, cho hệ thống cáp quang dưới biển và nhiều thứ khác nữa.”

Đồng thời, ông nói thêm, máy tính đã trở nên rẻ hơn và được phân phối trên khắp thế giới. Cũng đã xảy ra một sự bùng nổ về phần mềm – e-mail, các phương tiện tìm kiếm như Google và phần mềm có thể chia nhỏ bất cứ công việc nào và gửi một phần đến Boston, một phần đến Bangalore và một phần đến Bắc Kinh, tạo điều kiện cho dịch vụ việc làm từ xa phát triển.

Nilekani nói thêm: Khi tất cả những tiến bộ trên xảy ra đồng thời một lúc vào khoảng năm 2000, chúng “đã tạo ra một hệ thống cho phép việc làm tri thức và trí tuệ có thể được thực hiện từ bất cứ nơi đâu. Việc làm có thể được chia nhỏ, được giao, phân phối, sản xuất và lại được ghép lại, cho phép chúng ta làm việc một cách tự do hơn trước kia rất nhiều, đặc biệt đối với những việc làm có tính trí tuệ... Những gì các anh đang chứng kiến tại Bangalore hôm nay thực sự là đỉnh điểm của tất cả những hiện tượng trên kết hợp lại.”

Chúng tôi ngồi trên đi văng bên ngoài văn phòng của Nilekani và chờ đội TV dựng xong các máy quay. Khi tóm tắt tác động của tất cả hiện tượng trên, Nilekani đã thốt ra một cụm từ cứ lảng vảng trong đầu tôi. Ông nói với tôi: “Tom, sân chơi đang trở nên công bằng.” Ý ông muốn nói là các nước như Ấn Độ hiện có cơ hội hơn bao giờ hết trong cạnh tranh trên thị trường lao động tri thức toàn cầu – và rằng Mỹ cần chuẩn bị tốt cho quá trình cạnh tranh này. Vị thế của Mỹ sẽ bị thách thức nhưng, ông nhấn mạnh, thách thức là tốt cho nước Mỹ bởi vì chúng ta sẽ phát huy tối đa khi bị thách thức. Tối hôm ấy, trên con đường đầy ổ gà từ khu Infosys về Bangalore, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về cụm từ đó: “Sân chơi đang trở nên công bằng.”

Điều Nandan nói, tôi nghĩ, là sân chơi đang được san phẳng... Được san phẳng? Được san phẳng? Tôi nung nấu cụm từ trên trong đầu và đột nhiên, như một phản ứng hóa học, tôi thốt lên: Trời ơi, ông ta nói với tôi thế giới là phẳng!

Hơn 500 năm sau khi Columbus dùng công nghệ hàng hải thô sơ thời đó để vượt biển, trở về an toàn và chứng minh rằng thế giới là tròn, tôi đã đến đây, Bangalore, và được nghe một trong những kỹ sư thông minh nhất, được đào tạo tại trường đại học công nghệ hàng đầu của Ấn Độ và với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại nhất, nói chắc chắn với tôi rằng thế giới là phẳng, phẳng như màn hình mà ông ta sử dụng để chủ trì cuộc họp toàn bộ chuỗi cung toàn cầu của mình. Điều thú vị hơn là ông đã coi đây là sự kiện tích cực, là một mốc mới trong sự phát triển của loài người và là cơ hội lớn đối với Ấn Độ và thế giới – một thực tế là chúng ta đã làm phẳng thế giới!

Ngồi đằng sau chiếc xe đó, tôi đã viết vội vàng bốn từ đó vào sổ tay của mình: “Thế giới là phẳng.” Ngay khi viết xong, tôi nhận ra rằng đây là thông điệp đúc kết lại những gì tôi đã nhìn thấy và nghe được trong hai tuần làm phim tại Bangalore. Sân chơi cạnh tranh toàn cầu đang trở nên công bằng. Thế giới đang được san phẳng.

Khi nhận ra điều này, cảm giác hào hứng chen lẫn sợ hãi tràn ngập trong tôi. Là một nhà báo, tôi thực sự hào hứng khi tìm ra cách để lý giải rõ ràng những gì đang xảy ra trên thế giới ngày nay.

Rõ ràng là Nandan đã đúng: việc sử dụng máy tính, e-mail, mạng, hội nghị từ xa và phần mềm mới năng động cho phép nhiều cá nhân hơn có thể hợp tác và cạnh tranh với các cá nhân khác đối với nhiều loại việc làm, tại nhiều nơi trên trái đất theo cách bình đẳng hơn bất cứ thời đại nào trước kia trong lịch sử loài người. Đó là điều tôi đã khám phá ra trong chuyến hành trình đến Ấn Độ và những nơi khác trên thế giới.

Đó cũng chính là nội dung của cuốn sách này. Khi bạn bắt đầu tư duy về thế giới phẳng, hay ít nhất là đang trở nên phẳng, bạn sẽ phát hiện ra nhiều điều có ý nghĩa hoàn toàn khác với trước đây. Bản thân tôi cũng rất hào hứng, bởi quá trình làm phẳng thế giới cho phép chúng ta kết nối tất cả các trung tâm tri thức trên hành tinh lại thành một mạng lưới toàn cầu đơn nhất, mà – nếu hoạt động chính trị và chủ nghĩa khủng bố không cản đường – có thể sẽ mở ra một kỷ nguyên đầy thịnh vượng, sáng tạo, cộng tác giữa các công ty, các cộng đồng và các cá nhân.

Nhưng phát hiện về thế giới phẳng cũng làm tôi sợ hãi, cả trong nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Về cá nhân, sự sợ hãi của tôi xuất phát từ thực tế là không chỉ những người viết phần mềm và các chuyên gia máy tính được trao quyền để cộng tác về công việc trong thế giới phẳng, mà al-Qaeda và các mạng lưới khủng bố khác cũng có lợi thế như vậy. Sân chơi sẽ là không công bằng nếu chỉ thu hút và trao đặc quyền cho một nhóm gồm những người sáng tạo. Nhưng nó hoàn toàn công bằng vì đang thu hút và trao đặc quyền cho cả những người đàn ông và đàn bà giận dữ, căm phẫn và bị làm nhục.

Về mặt nghề nghiệp, phát hiện ra thế giới phẳng làm tôi day dứt vì tôi nhận ra rằng quá trình làm phẳng của thế giới đã xảy ra khi tôi đang ngủ, rằng tôi đã không thể nhận ra điều này sớm hơn. Sự thật là tôi không ngủ mà đã lao tâm khổ tứ vào việc khác. Trước sự kiện 11/9, tôi dành toàn bộ tâm trí để theo dõi toàn cầu hóa và phát hiện sự căng thẳng giữa xu thế hội nhập kinh tế (chiếc xe “Lexus”) và xu thế duy trì bản sắc và chủ nghĩa dân tộc (“Cây Ôliu”) – kể từ khi cuốn sách The Lexus and the Olive tree (Chiếc Lexus và cây Ôliu) của tôi ra đời năm 1999. Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9, các cuộc chiến tranh về cây Ôliu đã ám ảnh toàn bộ tâm trí tôi. Tôi dành hầu hết thời gian của mình để chu du trong thế giới Arập và Hồi giáo. Trong thời gian đó, tôi đã mất hết những dấu vết của toàn cầu hóa.

Tôi đã tìm lại dấu vết đó trong chuyến hành trình đến Bangalore tháng 2/2004. Khi tìm thấy, tôi nhận ra rằng một điều gì đó thật sự quan trọng đã xảy ra trong khi tôi mải mê với những lùm cây Ôliu ở Ka-bul hay Baghdad. Toàn cầu hóa đã phát triển đến cấp độ hoàn toàn mới. Nếu đặt cuốn sách Chiếc Lexus và cây Ôliu và cuốn sách này cạnh nhau, bạn sẽ rút ra kết luận lịch sử có tính khái quát rằng thế giới đã trải qua ba kỷ nguyên toàn cầu hóa.

Kỷ nguyên thứ nhất kéo dài từ năm 1492 – khi Columbus giương buồm, mở ra sự giao thương giữa Thế giới Cũ và Thế giới Mới – cho đến khoảng năm 1800. Tôi gọi thời kỳ này là Toàn cầu hóa 1.0. Toàn cầu hóa 1.0 đã làm thế giới co lại từ kích thước lớn thành kích thước trung bình. Toàn cầu hóa 1.0 đề cao các quốc gia và sức mạnh cơ bắp.

Có nghĩa là trong giai đoạn này tác nhân then chốt của sự thay đổi, động lực thúc đẩy quá trình hội nhập toàn cầu là việc quốc gia của bạn sở hữu sức mạnh cơ bắp như thế nào – bao nhiêu sức cơ bắp, bao nhiêu sức ngựa, sức gió hay sức hơi nước – và bạn sử dụng sức mạnh trên như thế nào.

Trong kỷ nguyên này, các quốc gia và chính phủ (thường xuất phát từ tôn giáo, chủ nghĩa đế quốc hay sự kết hợp của cả hai) đã đi đầu trong việc phá bỏ các bức tường và kết nối thế giới lại với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu. Trong Toàn cầu hóa 1.0, các vấn đề cơ bản được đặt ra là: Vị trí của một nước trong quá trình cạnh tranh và tận dụng cơ hội toàn cầu như thế nào? Làm thế nào để cá nhân có thể vươn ra toàn cầu và cộng tác với cá nhân khác trong khuôn khổ quốc gia?

Kỷ nguyên lớn thứ hai, Toàn cầu hóa 2.0, kéo dài từ năm 1800 đến năm 2000, bị gián đoạn bởi cuộc Đại Khủng hoảng và hai cuộc Chiến tranh Thế giới. Thời kỳ này làm thế giới co lại từ cỡ trung bình xuống cỡ nhỏ.

Trong Toàn cầu hóa 2.0, tác nhân then chốt của sự thay đổi; động lực thúc đẩy hội nhập toàn cầu là các công ty đa quốc gia. Các công ty đa quốc gia này vươn ra toàn cầu để mở rộng thị trường và thu hút sức lao động, với bước đi tiên phong đầu tiên của các công ty cổ phần Hà Lan và Anh cùng với Cách mạng Công nghiệp.

Trong nửa đầu của thời kỳ này, hội nhập toàn cầu được thúc đẩy bởi sự sụt giảm phí giao thông do sự ra đời của động cơ hơi nước và đường sắt, và trong nửa sau bởi sự sụt giảm phí liên lạc do sự phổ biến của điện tín, điện thoại, PC, vệ tinh, cáp quang và phiên bản đầu của World Wide Web (WWW).

Thời kỳ này đã chứng kiến sự ra đời và trưởng thành của nền kinh tế toàn cầu vì giao dịch về hàng hóa và thông tin giữa lục địa này với lục địa khác đã đủ lớn để hình thành thị trường toàn cầu. Các động lực đằng sau kỷ nguyên toàn cầu hóa này là các đột phá về phần cứng – từ tàu hơi nước và đường sắt ở thời kỳ đầu, đến điện thoại và máy tính cỡ lớn vào thời kỳ cuối. Vấn đề cơ bản của Toàn cầu hóa 2.0 là: Vị trí của Công ty của tôi như thế nào trong nền kinh tế toàn cầu? Công ty cần tận dụng các cơ hội như thế nào? Làm thế nào để tôi có thể vươn ra toàn cầu và cộng tác với những cá nhân khác thông qua công ty của tôi? Cuốn Chiếc Lexus và cây Ôliu đã đề cập về thời kỳ đỉnh cao của kỷ nguyên Toàn cầu hóa 2.0, thời đại của các bức tường sụp đổ trên khắp thế giới và sự hội nhập đan xen phản hội nhập được đẩy lên một mức hoàn toàn mới.

Nhưng ngay cả khi các bức tường sụp đổ, vẫn còn nhiều rào cản đối với sự hội nhập toàn cầu. Hãy nhớ, khi Bill Clinton được bầu làm tổng thống năm 1992, hầu như không ai ngoài chính phủ và giới học giả có địa chỉ e-mail, và khi tôi viết cuốn sách Chiếc Lexus và cây Ôliu năm 1998, Internet và thương mại điện tử vừa mới bắt đầu.

Đúng thế, Internet và thương mại điện tử cùng với nhiều thứ khác đã diễn ra trong khi tôi ngủ. Đó là lý do vì sao tôi lập luận trong cuốn sách này rằng vào khoảng năm 2000, chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên hoàn toàn mới: Toàn cầu hóa 3.0. Toàn cầu hóa 3.0 làm thế giới co từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san bằng sân chơi toàn cầu.

Trong khi động lực của Toàn cầu hóa 1.0 là các quốc gia, của Toàn cầu hóa 2.0 là các công ty thì động lực của Toàn cầu hóa 3.0 có tính độc nhất: đó là động lực mới cho phép các cá nhân cộng tác và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Tôi miêu tả hiện tượng các cá nhân và nhóm nhỏ được tạo điều kiện, được trao quyền và vươn ra toàn cầu một cách dễ dàng và suôn sẻ là hệ thống thế giới phẳng, khái niệm sẽ được tôi làm rõ trong cuốn sách này.

Hệ thống thế giới phẳng là sản phẩm của sự hội tụ giữa máy tính cá nhân (cho phép các cá nhân trở thành tác giả của các sản phẩm số) với cáp quang (cho phép các cá nhân tiếp cận với các sản phẩm số trên thế giới gần như miễn phí) và phần mềm xử lý công việc (cho phép các cá nhân trên khắp thế giới cộng tác trên cùng cơ sở dữ liệu số, bất kể từ nơi đâu với khoảng cách như thế nào). Không ai có thể dự liệu được sự hội tụ trên. Nó vừa mới diễn ra, vào khoảng năm 2000.

Khi nó diễn ra, con người trên khắp hành tinh như bừng tỉnh và nhận ra rằng họ có nhiều cơ hội vươn ra toàn cầu với tư cách là những cá nhân, rằng hơn lúc nào hết, họ cần phải tư duy lại về chính mình trong cạnh tranh với cá nhân khác trên hành tinh chứ không phải chỉ cạnh tranh với nhau. Do đó, giờ đây mọi người phải và cần hỏi: Vị trí của tôi, với tư cách là một cá nhân, trong sự cạnh tranh và trong cơ hội toàn cầu hiện nay là gì, và chính tôi phải cộng tác với những người khác trên thị trường toàn cầu như thế nào?

Song Toàn cầu hóa 3.0 không chỉ khác các kỷ nguyên trước ở cách nó làm thế giới co lại, làm phẳng thế giới và trao quyền cho các cá nhân. Nó khác Toàn cầu hóa 1.0 và Toàn cầu hóa 2.0 ở chỗ các giai đoạn trước chủ yếu do các cá nhân và doanh nghiệp châu Âu và Mỹ thúc đẩy. Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỷ 18 nhưng chính các nước, các công ty và các nhà thám hiểm phương Tây mới là tác nhân hình thành nên hệ thống toàn cầu. Nhưng mọi thứ đang khác đi. Trong quá trình làm phẳng và làm thế giới co lại, Toàn cầu hóa 3.0 không chỉ do các cá nhân của các nước phương Tây thúc đẩy mà từ nhiều nước – không phải phương Tây, không phải người da trắng. Các cá nhân từ mọi ngõ ngách của thế giới phẳng đều được trao quyền. Toàn cầu hóa 3.0 tạo điều kiện cho rất nhiều người tham gia và cạnh tranh; và bạn sẽ thấy con người của mọi màu da đều có thể tham gia.

(Mặc dù sự trao quyền cho các cá nhân để vươn ra toàn cầu là đặc tính mới và quan trọng nhất của Toàn cầu hóa 3.0, các công ty lớn và nhỏ cũng được trao thêm quyền lực mới trong kỷ nguyên này. Tôi sẽ trình bày chi tiết cả hai vấn đề trên trong phần sau của cuốn sách).

Đúng là khi rời văn phòng của Nandan ở Bangalore ngày hôm đó, tôi chỉ có trong đầu láng máng ý tưởng trên. Nhưng khi ngồi tại ban công khách sạn và suy ngẫm những gì đã xảy ra, tôi hiểu là mình sẽ toàn tâm toàn ý viết một cuốn sách nhằm lý giải quá trình làm phẳng của thế giới và tác động có thể có của quá trình này đối với các quốc gia, các công ty và các cá nhân. Vì thế, tôi đã gọi điện cho vợ tôi là Ann và nói rằng: “Anh sẽ viết một cuốn sách nhan đề Thế giới phẳng.” Cô ấy tỏ ra vừa buồn cười vừa tò mò – có thể là buồn cười hơn là tò mò! Cuối cùng, tôi đã thuyết phục được cô ấy và hy vọng sẽ có khả năng thuyết phục được bạn, thưa bạn đọc thân mến. Xin hãy cùng tôi trở về chặng đầu của chuyến hành trình của tôi đến Ấn Độ và một số nơi khác ở phương Đông. Tôi sẽ kể lại một số cuộc gặp gỡ đã dẫn tôi đến kết luận rằng thế giới không còn tròn nữa – mà là phẳng.

Jaithirth “Jerry” Rao là một trong những người đầu tiên tôi gặp ở Bangalore – tôi đã gặp anh không quá vài phút ở khách sạn Leela Palace trước khi anh ta nói với tôi rằng anh có thể xử lý hồ sơ thuế của tôi và đáp ứng các nhu cầu về kế toán khác tại Bangalore. Không, cảm ơn, tôi từ chối. Tôi đã có một nhân viên kế toán ở Chicago. Jerry chỉ mỉm cười. Anh ta đủ lịch sự để không nói rằng anh ta có thể đã là nhân viên kế toán của tôi, hay đúng hơn là người làm thuê cho nhân viên kế toán của tôi ở Chicago, do sự bùng nổ về thuê làm bên ngoài các thủ tục thuế.

“Quá trình trên đang diễn ra”, Rao cho biết. Anh xuất thân từ Mumbai, trước kia là Bombay. Công ty MphasiS của anh có đội ngũ nhân viên kế toán Ấn Độ có khả năng làm thuê công việc kế toán cho bất cứ tiểu bang nào của Mỹ và cả chính phủ liên bang. “Chúng tôi liên kết với nhiều hãng CPA [kiểm toán viên có chứng chỉ] cỡ nhỏ và vừa ở Mỹ.”

Tôi hỏi: “Anh muốn nói là liên kết với nhân viên kế toán của tôi?” “Vâng, với nhân viên kế toán của ngài”, Rao vừa nói vừa cười. Công ty của Rao đi tiên phong trong chương trình phần mềm xử lý công việc với một định dạng chuẩn giúp việc thuê làm bên ngoài các thủ tục thuế dễ dàng và ít tốn kém. Jerry giải thích: Toàn bộ quá trình bắt đầu khi một nhân viên kế toán ở Mỹ quét các tờ khai thuế năm ngoái của tôi, cộng với các bản kê khai W-2, W-4, 1099, tiền thưởng và báo cáo chứng khoán của tôi vào một máy chủ đặt ở California hay Texas.

Rao nói: “Nếu thuê xử lý thủ tục thuế ở nước ngoài, nhân viên kế toán của anh sẽ phải chú ý vì biết rằng anh không thích (ai đó ở ngoài nước) biết họ (tên) hay số An sinh Xã hội của anh. Anh ta có thể chọn lệnh ẩn những thông tin đó. Các nhân viên kế toán ở Ấn Độ [dùng mật khẩu] sẽ đọc thông tin có liên quan trực tiếp từ máy chủ ở Mỹ và hoàn tất thủ tục thuế của anh trong khi không biết anh là ai. Tất cả các số liệu được giữ ở Mỹ theo quy định bảo vệ thông tin cá nhân... Chúng tôi luôn coi trọng việc bảo vệ dữ liệu và thông tin cá nhân. Nhân viên kế toán ở Ấn Độ có thể nhìn thấy số liệu trên màn hình, nhưng không thể tải xuống hay in ra – chương trình của chúng tôi không cho phép tiến hành việc đó. Cách duy nhất anh ta có thể làm là ghi nhớ, nếu như anh ta có ý xấu. Các nhân viên kế toán thậm chí không được phép mang giấy và bút vào trong phòng khi họ xử lý thủ tục thuế.”

Tôi thực sự bị cuốn hút về mức độ phát triển của dịch vụ thuê làm bên ngoài. Rao nói: “Chúng tôi đang làm nhiều ngàn tờ khai thuế. Nhân viên CPA ở Mỹ thậm chí không cần đến văn phòng của họ. Họ có thể ngồi trên một bãi biển ở California, e-mail cho chúng tôi và yêu cầu: ‘Jerry, cậu làm các tờ khai thuế bang New York rất tốt, hãy làm các tờ khai của Tom. Sonia, cậu và nhóm của cậu ở Delhi hãy làm các tờ khai ở Washington và Florida nhé’. Sonia làm việc tại nhà riêng ở Ấn Độ nên công ty không phải trả trước tiền lương. ‘Còn một số việc thực sự phức tạp đây nữa, tôi sẽ tự làm.”

Năm 2003, khoảng 25.000 tờ khai thuế ở Mỹ đã được làm ở Ấn Độ. Năm 2004 con số này là 100.000. Năm 2005, con số trên là khoảng 400.000. Trong một thập niên tới, có thể dự đoán rằng nhân viên kế toán tại Mỹ sẽ thuê làm bên ngoài tất cả các khâu cơ bản của các tờ khai thuế, ít nhất là như thế.

“Anh đã vào nghề này như thế nào?” tôi hỏi Rao. Rao giải thích: “Một người bạn người Hà Lan của tôi là Jeroen Tas và tôi đã từng làm cho tập đoàn Citigroup ở California. Tôi là sếp của anh ta. Một hôm, chúng tôi cùng trở về từ New York trên một chuyến bay và tôi nói sẽ nghỉ việc. Anh ta nói ‘Tôi cũng thế’. Cả hai chúng tôi đều nói, ‘Sao chúng ta lại không mở công ty riêng nhỉ?’. Vì thế, vào năm 1997-1998, chúng tôi đưa ra một kế hoạch kinh doanh cung cấp các giải pháp Internet cao cấp cho các công ty lớn... Hai năm trước, khi tôi đi dự một hội nghị về công nghệ ở Las Vegas, một số công ty kế toán cỡ trung bình của Mỹ đã tiếp cận tôi và cho biết họ không thể đủ sức thực hiện việc thuê làm bên ngoài về thuế tại Ấn Độ, điều mà các công ty lớn có khả năng. Họ muốn đi trước một bước. Vì thế, chúng tôi đã phát triển một sản phẩm phần mềm gọi là VTR – Virtual Tax Room: Không gian Ảo về Thuế – để cho phép các hãng kế toán cỡ vừa này dễ dàng thuê làm bên ngoài các tờ khai thuế.”

Jerry nói: “Các công ty cỡ vừa đã ‘có được một sân chơi công bằng hơn’, điều mà trước đây họ không có được. Đột nhiên, họ có thể tiếp cận cùng các lợi thế về quy mô mà trước đây, chỉ các công ty lớn mới có.”

Tôi phân vân: vậy thông điệp cho những người Mỹ có phải là “Mẹ ơi, đừng cho các con làm nghề kế toán?”

Không hẳn như vậy, Rao nói. “Chúng tôi chỉ làm những công việc phụ. Việc chuẩn bị một tờ khai thuế không có gì là phức tạp. Đây là việc làm rất ít sáng tạo và được thuê ở bên ngoài.”

Tôi hỏi: “Vậy ở Mỹ sẽ còn việc gì?”

Rao nói: “Nhân viên kế toán muốn tiếp tục hành nghề tại Mỹ sẽ phải nghĩ ra các chiến lược sáng tạo phức tạp hợp, như tránh thuế hay quản lý ‘quan hệ với khách hàng’. Anh hay chị ta sẽ nói với các khách hàng của mình: ‘Tôi sẽ thuê làm bên ngoài các công việc phụ. Bây giờ chúng ta hãy bàn xem làm thế nào để quản lý tài sản của anh và cần làm gì để giúp đỡ con cái của anh. Anh có muốn gửi tiền vào quỹ ủy thác không?’. Điều đó có nghĩa là nhân viên kế toán tại Mỹ cần bàn bạc thực chất với khách hàng, thay vì phải tối mắt tối mũi suốt từ tháng 2 đến tháng 4 và thường phải xin gia hạn đến tháng 8 mà không có bất cứ buổi bàn bạc thực chất nào với khách hàng.”

Theo đánh giá của một bài báo trên tạp chí Accounting Today (7/7/2004), cách làm trên chính là tương lai của nghề kế toán. L. Gary Boomer, Tổng Giám đốc của công ty Boomer Consulting ở Manhattan, tại thành phố Kansas, đã viết: “Năm tài khóa vừa qua, đã có hơn 100.000 tờ khai thuế được thuê làm bên ngoài và hiện nay, việc làm trên đã được mở rộng tới các quỹ ủy thác, các hội buôn và các công ty...

Lý do chủ yếu khiến ngành kinh doanh trên mở rộng quy mô nhanh chóng như trong ba năm qua là do các công ty có trụ sở tại nước ngoài đã đầu tư mạnh vào việc hoàn thiện hệ thống, xử lý và đào tạo.” Ông ta viết tiếp: Có khoảng 70 ngàn người tốt nghiệp đại học ngành kế toán ở Ấn Độ mỗi năm và nhiều người trong số họ vào làm tại các công ty Ấn Độ với mức lương khởi điểm là 100 dollar/tháng. Với ưu thế của truyền thông tốc độ cao, đào tạo nghiêm ngặt, các mẫu biểu chuẩn hóa, những người Ấn Độ trẻ tuổi này có thể được đào tạo thành các nhân viên kế toán phương Tây trong thời gian ngắn với chi phí thấp.

Một số công ty kế toán Ấn Độ thậm chí còn tiếp thị tới các công ty của Mỹ thông qua trao đổi trực tuyến mà không cần phải đi tới nơi. Boomer kết luận: “Nghề kế toán hiện nay đang thay đổi. Những người bấu víu vào quá khứ và chống lại sự thay đổi sẽ không tìm được chỗ đứng. Những người có thể tạo ra giá trị thông qua khả năng lãnh đạo, qua các mối quan hệ và sức sáng tạo sẽ làm biến đổi ngành kế toán, cũng như tăng cường các mối quan hệ với khách hàng hiện có.”

Tôi nói với Rao: điều anh đang nói với tôi là với người Mỹ, bất cứ làm nghề gì – bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư, nhân viên kế toán – bạn cần biết tách công việc thành những phần khác nhau, bởi vì bất cứ công việc gì có thể số hóa được đều có thể được thuê làm bên ngoài tại nơi có các nhà sản xuất thông minh nhất, hoặc rẻ nhất, hoặc cả hai. Rao trả lời: “Mỗi người cần tập trung vào giá trị gia tăng của họ.”

Nhưng nếu tôi chỉ là một nhân viên kế toán trung bình thì sao? Tôi học tại một trường đại học công, tốt nghiệp với kết quả trung bình B+. Sau một thời gian, tôi có bằng CPA. Tôi làm việc ở một hãng kế toán lớn, làm công việc bình thường. Tôi ít khi gặp khách hàng. Họ giữ tôi ở hậu trường. Nhưng đó là cuộc sống an nhàn và về cơ bản, công ty hài lòng với tôi. Điều gì sẽ xảy ra với tôi trong thế giới phẳng?

“Đó là một câu hỏi hay,” Rao nói. “Chúng ta cần phải nhìn thẳng vào sự thật. Chúng ta đang ở trong giai đoạn diễn ra sự thay đổi lớn về công nghệ. Khi bạn sống trong xã hội đi tiên phong trong sự thay đổi đó [như Mỹ], thật khó có thể dự đoán điều gì sẽ xảy ra. Tiên đoán về tương lai của người Ấn Độ có vẻ dễ hơn. Trong mười năm tới, Ấn Độ sẽ làm nhiều việc mà Mỹ hiện nay đang làm. Chúng tôi có thể dự đoán tương lai của mình. Nhưng chúng tôi ở phía sau các bạn. Các bạn chính là người tạo ra tương lai. Mỹ luôn luôn đi đầu trong làn sóng sáng tạo mới...

Thật khó khi nhìn vào mắt nhân viên kế người toán đó và nói tương lai công việc của anh ta sẽ là gì. Chúng ta không được coi thường điều đó. Chúng ta phải xử lý vấn đề đó và đối thoại một cách thành thật... Bất cứ công việc nào có thể chuyển thành dạng số, phân ly chuỗi giá trị và chuyển đi nơi khác, thì sẽ khó có cơ hội ở lại nước Mỹ. Ai đó sẽ nói: ‘Vâng, nhưng anh không thể thuê bên ngoài việc chế biến món thịt bò bít-tết’. Đúng, nhưng tôi có thể đặt trước bàn cho ông từ bất cứ nơi nào trên thế giới.

Chúng tôi có thể nói: ‘Vâng, thưa ông Friedman, chúng tôi có thể dành cho ông một bàn gần cửa sổ’. Nói cách khác, có những phần của việc đi ăn cơm hiệu mà chúng ta có thể phân chia và thuê làm bên ngoài. Nếu bạn quay lại và đọc các sách giáo khoa kinh tế học cơ bản, bạn sẽ đọc được rằng: Các hàng hóa được trao đổi, còn các dịch vụ thì chỉ được thực hiện ở một địa điểm nhất định. Bạn không thể xuất khẩu việc cắt tóc. Song chúng ta có thể xuất khẩu việc cắt tóc, đó là dịch vụ hẹn trước. Bạn muốn cắt kiểu tóc gì? Bạn muốn thợ cắt nào? Tất cả các thứ đó có thể và sẽ được một trung tâm liên hệ từ xa thực hiện.”

Kết thúc cuộc nói chuyện, tôi hỏi Rao rằng anh sẽ làm gì. Anh ta tỏ ra đầy hào hứng. Anh bảo tôi rằng đã nói chuyện với một công ty của Israel đang nắm bí quyết đột phá về công nghệ nén giúp việc truyền qua Internet các hình quét CAT (Computer Assisted Tomography) nhanh và dễ dàng hơn, cho phép tiến hành nhanh chóng việc tham khảo ý kiến của một bác sĩ cách xa nửa vòng trái đất.

Vài tuần sau buổi nói chuyện với Rao, tôi nhận được e-mail từ Bill Brody, hiệu trưởng Đại học Johns Hopkins, người vừa được tôi phỏng vấn khi viết cuốn sách này, với nội dung như sau:

Tom thân mến, tôi vừa mới phát biểu tại hội nghị giáo dục y tế của trường Hopkins dành cho các bác sĩ xạ chấn [radiologist] (tôi đã từng là bác sĩ xạ chấn)... Đã xảy ra một chuyện rất thú vị mà tôi nghĩ anh sẽ quan tâm. Gần đây, tại nhiều bệnh viện nhỏ và một số bệnh viện cỡ trung bình ở Mỹ, các bác sĩ xạ chấn đang thuê làm bên ngoài việc đọc các ảnh quét CAT tại Ấn Độ và Australia!!! Hầu hết việc thuê làm bên ngoài xảy ra vào ban đêm (và có thể cuối tuần) khi các bác sĩ xạ chấn không có đủ nhân viên làm việc trong bệnh viện.

Trong khi một số nhóm bác sĩ xạ chấn dùng xạ chấn từ xa [teleradiology] để chuyển các ảnh từ bệnh viện về nhà của họ (hay đến Vail hay Cape Cod, tôi nghĩ thế) và họ có thể diễn giải các ảnh và chẩn đoán 24/7, thì các bệnh viện nhỏ lại chuyển các bức ảnh quét cho các bác sĩ xạ chấn ở nước ngoài. Lợi thế là ban ngày ở Australia hay Ấn Độ chính là ban đêm ở Mỹ, nên việc đọc các bức ảnh trở nên dễ dàng hơn tại những nơi khác trên trái đất. Vì các ảnh CAT (và MRI-Magnetic Resonance Imaging) đã ở dạng số và có sẵn trên mạng, nên ảnh có thể được xem tại bất cứ nơi nào trên thế giới... Tôi cho rằng các bác sĩ xạ chấn ở đầu kia... đã được đào tạo tại Mỹ, có bằng, chứng chỉ phù hợp... Các nhóm thực hiện việc đọc ngoài giờ này được gọi là “Những con Chim Ưng đêm – Nighthawks.”

Chúc tốt lành,

Bill

Thật may là tôi không phải là một nhân viên kế toán hay một bác sĩ xạ chấn mà là một nhà báo. Việc làm báo chắc là không thể được thuê làm bên ngoài, mặc dù một số bạn đọc mong muốn các bài báo của tôi được chuyển đến Bắc Triều Tiên. Ít nhất là tôi đã từng nghĩ như vậy. Nhưng sau đó, tôi được nghe về hoạt động của hãng thông tấn Reuters tại Ấn Độ. Tôi chưa có thời gian thăm văn phòng Reuters ở Bangalore, nhưng đã được gặp Tom Glocer, Tổng giám đốc của Reuters, để nghe về công việc của ông ấy. Glocer là người đi tiên phong về thuê làm bên ngoài các khâu trong mạng lưới cung cấp tin tức.

Với 2.300 nhà báo làm việc tại 197 văn phòng trên khắp thế giới, cung cấp tin tức cho các khách hàng ở mọi lĩnh vực: ngân hàng, đầu tư, thị trường tài chính thứ cấp, các nhà môi giới chứng khoán, các báo, đài phát thanh, truyền hình và các đại lý Internet, Reuters luôn phải đáp ứng nhu cầu vô cùng đa dạng của khán thính giả. Tuy nhiên, sau khi các công ty dot-com phá sản, các khách hàng bắt đầu quan tâm hơn đến chi phí cho thông tin. Reuters buộc phải tính toán lại chi phí và hiệu quả đưa tin: Reuters cần cử phóng viên đến những nơi nào trên thế giới để cung cấp tin cho mạng lưới tin tức toàn cầu? Liệu Reuters có thể chia nhỏ công việc của một phóng viên, giữ lại một phần ở London, New York và chuyển một phần sang Ấn Độ?

Glocer bắt đầu bằng việc đưa tin về bơ-và-bánh mỳ, nguồn tin cơ bản nhất mà Reuters cung cấp, liên quan đến thu nhập công ty và hoạt động kinh doanh được cập nhật từng giây trong ngày. “Công ty Exxon đã có thông tin về lợi tức và chúng ta cần đưa thông tin này càng nhanh càng tốt lên màn hình trên khắp thế giới: ‘cổ phần Exxon tăng thêm 39 cent trong quý này so với 36 cent trong quý trước’. Hiệu quả ở đây là tốc độ và sự chính xác”, Glocer giải thích. “Chúng tôi không phân tích sâu, chỉ cần đưa tin cơ bản nhanh nhất có thể. Chỉ vài giây sau khi công ty ra tuyên bố là phải có tin; và bảng biểu [về thu nhập quý] sẽ đến muộn hơn vài giây.”

Các loại tin nóng về thu nhập trong thông tin thương mại cũng giống như vani đối với việc làm kem – thứ hàng hóa cơ bản có thể được sản xuất ở bất cứ đâu trong thế giới phẳng. Việc làm tri thức có giá trị gia tăng được thực hiện 5 phút tiếp theo khi một nhà báo đưa ra bình luận về công ty có sự tham gia của hai nhà phân tích hàng đầu trong lĩnh vực này và có thể sẽ đưa cả tin về phản ứng của đối thủ cạnh tranh đối với bản báo cáo thu nhập. Glocer cho biết: “Điều đó cần kỹ năng báo chí ở trình độ cao hơn, cần có quan hệ trên thị trường, biết ai có trình độ phân tích giỏi nhất và biết mời cơm đúng đối tượng.”

Sự phá sản của các công ty dot-com và quá trình làm phẳng của thế giới đã buộc Glocer phải nghĩ lại cách cung cấp tin tức của Reuters – liệu hãng có thể chia nhỏ các chức năng của một nhà báo và chuyển những phần việc có giá trị gia tăng thấp sang Ấn Độ. Mục tiêu chính của ông là để giảm sự chồng chéo trong quỹ tiền lương của Reuters và giữ lại càng nhiều nhà báo giỏi càng tốt. Glocer nói: “Do đó, việc đầu tiên chúng tôi làm là thử thuê sáu phóng viên ở Bangalore. Chúng tôi yêu cầu: ‘Hãy nói với họ chỉ làm các tin nóng, các bảng biểu và một số công việc khác tại Bangalore.’”

Những người Ấn Độ mới được thuê này có kiến thức kế toán và được Reuters huấn luyện, song họ được trả lương, nghỉ ngơi và trợ cấp y tế theo chuẩn địa phương. “Ấn Độ là miền đất giàu tiềm năng trong việc tuyển người, không chỉ có kiến thức về kỹ thuật mà cả kiến thức về tài chính,” Glocer nói. Khi một công ty công bố thu nhập của mình, một trong những việc đầu tiên là cung cấp thông tin cho các hãng thông tấn – Reuters, Dow Jones và Bloomberg – để đưa tin. Ông nói: “Chúng tôi sẽ lấy dữ liệu thô đó và sau đó là một cuộc chạy đua xem ai có thể khai thác thông tin đó nhanh nhất. Bangalore là một trong những nơi được nối mạng nhanh nhất trên thế giới và mặc dù có thể bị trễ một chút – một giây hay ít hơn – nhưng bạn có thể ngồi ở Bangalore, lấy phiên bản điện tử của một cuộc họp báo và viết thành một bài báo hệt như bạn đang ở London hay New York.”

Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ lương và tiền thuê nhà ở Bangalore chưa bằng một phần năm so với ở các thủ đô phương Tây.

Mặc dù khi kinh tế học và quá trình làm phẳng thế giới đã đẩy Reuters theo hướng trên, nhưng chính Glocer mới là người cầm lái giỏi. Ông nói: “Chúng tôi cho rằng có thể biến việc đưa tin thành hàng hóa và thuê làm ở nơi khác trên thế giới” và tạo cơ hội cho các nhà báo kỳ cựu tập trung thả sức làm báo và đưa ra những phân tích có giá trị gia tăng cao. Glocer hỏi: “Giả sử như anh là một nhà báo của Reuters ở New York. Thử hỏi mục tiêu cả đời của anh là gì: đưa các bản tin thông thường hay viết các bài phân tích?” Tất nhiên câu trả lời là phải viết các bài phân tích. Thuê làm bên ngoài về thông tin tại Ấn Độ cho phép Reuters đưa cả tin về các công ty nhỏ hơn, điều trước đây khó thực hiện do phải trả mức lương cao cho các phóng viên ở New York. Nhưng với các phóng viên Ấn Độ có lương thấp, Reuters có thể thuê nhiều người với tổng chi phí chỉ bằng lương của một phóng viên ở New York. Điều đó đã xảy ra ở Bangalore. Tới mùa Hè năm 2004, Reuters đã thuê 300 phóng viên đưa tin tại Bangalore và mục tiêu cuối cùng là thuê 1.500 người. Một số là các phóng viên Reuters kỳ cựu được cử sang để huấn luyện các phóng viên Ấn Độ, một số là các phóng viên đưa tin nhanh, nhưng hầu hết là các nhà báo làm phân tích dữ liệu chuyên biệt – tính toán số liệu cho việc chào bán chứng khoán.

Glocer nói: “Rất nhiều khách hàng của chúng tôi đang làm cùng một việc. Nghiên cứu về đầu tư đòi hỏi phải xử lý khối lượng chi phí khổng lồ, vì thế nhiều công ty ở Bangalore phải tiến hành làm ca để đưa ra phân tích cơ bản. Gần đây, các công ty lớn ở Wall Street đã tiến hành nghiên cứu đầu tư bằng cách chi hàng triệu dollar cho các nhà phân tích có uy tín; sau đó lấy lại một phần chi phí trên từ các phòng môi giới chứng khoán bằng cách bán kết quả phân tích cho các khách hàng gần gũi nhất, và lấy lại một phần khác từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng đầu tư vì các doanh nghiệp này có nhu cầu dùng các phân tích có uy tín trên để vay vốn ngân hàng.

Sau các vụ điều tra của Eliot Spitzer – Bộ trưởng tư pháp tiểu bang New York, về hoạt động của thị trường chứng khoán Wall Street, hoạt động ngân hàng đầu tư và môi giới chứng khoán đã phải tách bạch rõ ràng – do đó các nhà phân tích đã ngừng thổi phồng các công ty. Kết quả là các tập đoàn lớn ở Wall Street phải cắt giảm mạnh chi phí nghiên cứu thị trường và hiện chỉ có các phòng môi giới chứng khoán phải đứng ra chi trả.

Đây chính là động lực lớn thúc đẩy họ thuê làm bên ngoài một số phần việc phân tích tại một số nơi như Bangalore. Bên cạnh lợi ích là chỉ phải trả một chuyên gia phân tích ở Bangalore khoảng 15.000 dollar so với 80.000 dollar ở New York hay London, Reuters nhận thấy rằng các chuyên gia Ấn Độ không chỉ giỏi về tài chính mà còn luôn nhiệt tình làm việc. Mới đây, Reuters đã mở thêm một trung tâm phát triển phần mềm ở Bangkok vì hóa ra Bangkok cũng làm một địa điểm tốt trong việc thu hút một số chuyên gia viết phần mềm bị các công ty phương Tây gạt ra lề do tập trung vào tranh giành tài năng ở Bangalore.

Tôi cảm thấy bị giằng xé bởi xu hướng trên. Do bắt đầu sự nghiệp của mình như một phóng viên tin tức của hãng tin UPI-United Press International, tôi rất đồng cảm với các phóng viên tin tức về những áp lực, cả chuyên môn và tài chính, mà họ phải trải qua trong khi tác nghiệp. Song UPI có thể đã là một hãng thông tấn thành công nếu hai mươi lăm năm trước đây, hãng tiến hành thuê làm bên ngoài một số công việc mang lại ít lợi nhuận. Trên thực tế, hãng đã không làm như vậy.

Glocer nói: “Đối xử với nhân viên là vấn đề nhạy cảm.” Ông đã cắt biên chế khoảng một phần tư nhân viên của Reuters nhưng giữ lại phần lớn phóng viên. Ông nói: nhân viên Reuters hiểu rằng đây là việc phải làm để hãng có thể tồn tại và lại phát đạt. Đồng thời, Glocer nói, “đó là những người sành sỏi trong việc đưa tin. Họ biết khách hàng cần gì. Họ nắm được cốt truyện... Quan trọng là phải thẳng thắn với nhân viên về mục tiêu và lý do chúng tôi làm như vậy, chứ không nên tô hồng mọi chuyện. Tôi có niềm tin vững chắc đối với học thuyết kinh tế cổ điển cho rằng công việc sẽ được chuyển đến nơi nó có thể được làm tốt nhất. Tuy nhiên, chúng ta cũng không được bỏ qua thực tế là một số cá nhân sẽ gặp khó khăn khi tìm việc làm mới. Họ cần được đào tạo lại và nhận trợ giúp từ hệ thống an sinh xã hội.”

Trích từ trang 9 đến trang 40 của sách "Thế giới phẳng"

Việt Báo
Rùng mình với cô gái khóc ra máu khi đang ngủ
Comment :Một - Khi tôi đang ngủ (trích từ trang 9 đến trang 40)
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Một - Khi tôi đang ngủ (trích từ trang 9 đến trang 40) bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Mot Khi toi dang ngu trich tu trang 9 den trang 40 ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Một - Khi tôi đang ngủ (trích từ trang 9 đến trang 40) ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
A - When I'm asleep (from page 9 to page 40)
India, New York, Wall Street, Lexus, multinational companies, accounting personnel, value-added brokerage securities companies, globalization, how can individuals, outside, hiring, to
process of making the world flat out How.
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h298 Cau be 11 tuoi tu tu vi ko co quan ao moi
    Thời sự 24h(29/8): Cậu bé 11 tuổi tự tử vì ko có quần áo mới

    Có một đứa trẻ 11 tuổi vừa tự tử, thưa ông Giời; Kỳ lạ thùng niêm phong tôm tiêm tạp chất, trở thành "sạch" sau 1 đêm; Bàng hoàng thanh niên tay cầm điện thoại, chết ngồi bên đường; Bệnh nhân nhiễm HIV giật kéo đe dọa bác sĩ; Quảng Nam: Loa phát thanh xã nhiễu sóng tiếng Trung Quốc

  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Thoi su 24h248 Chat xac nguoi tinh bo bao tai o Sai Gon
    Thời sự 24h(24/8): Chặt xác người tình bỏ bao tải ở Sài Gòn

    Cứu một cụ bà trong đám cháy, thiếu úy CSGT nhập viện cùng nạn nhân; Cắt điện, nước của quán cà phê Xin Chào là sai quy định; Nhiều phi công xác nhận bị chiếu đèn laser khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất; Sập hầm vàng ở Lào Cai: công bố danh tính 7 công nhân bị chết; Ẩn tình vụ vợ U60 thuê người đánh sảy thai cô giúp việc 19 tuổi

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t