Thứ tư, 09 Tháng một 2008, 08:09 GMT+7

Derek Walcott

Tầm vóc của một thành phố không thể được đo bằng các vị khách du lịch hay kẻ lưu vong, mà bởi chính những công dân và kiến trúc của nó. Một khi người ta bảo rằng chúng tôi chưa phải là một thành phố hay một nền văn hóa, chúng tôi cần phải trả lời như thế này: Tôi không phải là thành phố hay nền văn hóa của các người. – D. Walcott

Derek Walcott (23/1/1930)

Giải Nobel Văn học 1992

* Nhà thơ, nhà soạn kịch Saint Lucia

* Nơi sinh: Castries, Saint Lucia (Trinidad và Tobago)

Derek Walcott
Derek Walcott được trao giải Nobel cho những sáng tác mang phong cách đặc sắc, giàu cảm xúc và nhạc tính được khơi nguồn từ nền văn hóa Caribe của quê hương ông và những di sản trong quá khứ thuộc địa của nó. D. Walcott là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của thơ ca thế kỉ XX.

Derek Walcott sinh ra tại hòn đảo Saint Lucia trong một gia đình nhà giáo. Bà nội và bà ngoại của ông đều là hậu duệ của những người nô lệ. Cha ông, một họa sĩ vẽ màu nước phóng khoáng, qua đời khi D. Walcott và người anh sinh đôi, Roderick, mới lên vài tuổi. Mẹ ông điều hành trường giám lí của thành phố. Sau khi học ở trường Cao đẳng Saint Mary tại quê hương và Đại học Tổng hợp West Indies ở Jamaica, năm 1953 D. Walcott tới Trinidad làm việc với tơ cách nhà phê bình sân khấu và nghệ thuật.

Năm 18 tuổi, D. Walcott bắt đầu viết 25 bài thơ, nhơng ông chỉ thực sự được biết đến với tập thơ Đêm xanh. Thơ 1948- 1960 (1962). Với tập thơ này D. Walcott được đánh giá là nhà thơ của xứ thuộc địa đã sáng tạo ra tác phẩm ngang hàng với các nhà thơ nổi tiếng nhất ở chính quốc. Thơ của D. Walcott chủ yếu được viết bằng tiếng Anh, đôi khi mang sắc thái ngôn ngữ địa phương. Ngoài những tác phẩm thơ, ông còn nổi tiếng trong lĩnh vực sáng tác kịch, trong đó phải kể đến vở Lễ tưởng niệm và kịch câm (1980). Một số vở kịch của ông được viết bằng thơ. Năm 1959, ông thành lập Nhà hát Trinidad và dàn dựng các vở kịch thời trẻ của ông.

D. Walcott đi du lịch rất nhiều nước nhơng các tác phẩm của ông mang nặng các yếu tố của xã hội Jamaica với sự du nhập văn hóa từ Châu Phi, Châu Á, Châu Âu. Trong nhiều năm ông sống ở Trinidad, dạy văn học và cách viết văn sáng tạo ở Đại học Boston. D. Walcott từ chối danh hiệu công dân Anh quốc và nhập quốc tịch Saint Lucia - một quốc đảo có đường kính 25 dặm với gần 25.000 người dân. Cho đến nay ông đã xuất bản hơn 40 tập thơ và kịch.

Kinh nghiệm sống tại một đất nước thuộc địa của Anh đã có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc đời và sáng tác của ông. Nhà thơ Mỹ gốc Nga Brodsky (giải Nobel 1987) là người bạn gần gũi thân thiết của D. Walcott đã viết về quê hương xứ sở của ông như sau: "Colombo đã tìm ra nó, người Anh đã chiếm nó làm thuộc địa và Derek Walcott làm cho nó trở thành bất tử."

Năm 1981, D. Walcott được nhận giải "Giành cho các thiên tài" 250.000 USD của quỹ John và Katrin Makartuz. Năm 1992 ông nhận giải Nobel vì đã sáng tạo nên những mẫu mực thơ ca tuyệt vời của xứ Caribe.

* Tác phẩm:

25 bài thơ (25 poems, 1948), thơ.

Mộ chí cho chàng trai trẻ (Epitaph for the young, 1949), thơ.

Ti-Jean và các anh em của cậu (Ti-Jean and his brothers, 1958), kịch.

Đêm xanh. Thơ 1948-1960 (In a green night. Poems 1948- 1960), 1962, thơ.

Tuyển tập thơ (Selected poems, 1964), thơ.

Người đắm tàu và những bài thơ khác (The castaway and other poems, 1965) thơ.

Vịnh và những bài thơ khác (Gulf and other poems, 1969), thơ.

Cuộc đời khác (Another life, 1973), thơ.

Nho biển (Sea grapes, 1978), thơ.

Vương quốc Sao-Táo (The Star-Apple kingdom, 1979), thơ.

Lễ tưởng niệm và kịch câm (Remember and pantomime, 1980), kịch.

Tuyển tập thơ (Selected poetry, 1981), thơ.

Người lữ hành may mắn (The fortunate traveller, 1981), thơ.

Giữa mùa hè (Midsummer, 1984), thơ.

Giấc mơ trên đồi khỉ và những vở kịch khác (Dream on monkey mountain and other plays, 1970), kịch.

Thịt bò, không thịt gà (Beef, no chicken, 1985), kịch.

Ba vở kịch (The three plays, 1986), kịch.

Chúc thư Arkansas (The Arkansas testament, 1987), thơ.

Omeros (Omeros, 1990), thơ.

Odyssey (The Odyssey, 1993), kịch.

Phóng khoáng (Bounty, 1997), thơ.

Đứa con phóng đãng (The prodigal, 2004), thơ.

© Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

Diễn từ Nobel

AntillesNhững mảnh ký ức sử thi

Felicity là một ngôi làng ở Tricidad nằm ven dải đồng bằng Caroni, vùng đồng bằng miền trung rộng lớn vẫn còn trồng mía nơi các thợ chặt mía làm thuê được đưa tới sau khi họ được giải phóng, do vậy mà dân số ít ỏi của Felicity là người Đông Ấn, và vào cái buổi chiều tôi tới thăm ngôi làng này cùng những người bạn từ Mỹ đến, tất cả các khuôn mặt dọc đường đi đều là người Ấn Độ, những khuôn mặt mà, như tôi hu vọng thể hiện, là một cái gì đó thật đẹp và cảm động, vì chiều thứ bảy này người ta sẽ diễn Ramleela, vở kịch anh hùng ca dựng từ sử thi Ramayana của người Hindu, và những diễn viên phục trang từ làng tới đang tụ tập trên một khu đất có chăng những lá cờ nhiều màu sắc giống như một trạm xăng mới, và những cậu bé người Ấn xinh đẹp trong trang phục đỏ và đen đang nhắm mũi tên một cách cầu Âu vào ánh chiều tà. Những rặng núi xanh thấp thoáng nơi chân trời, thảm có và những đám mây tươi sáng sẽ hòa màu sắc vào nhau trước khi ánh sáng tàn phai. Felicity! Cái tên Anglo-Saxon quá ư êm ái đối với một hồi ức anh hùng ca.

Dưới một nhà kho để ngỏ ven bãi đất trống, có hai chiếc khung tre khổng lồ trông như hai chiếc lồng lớn. Chúng là những bộ phận của cơ thể một vị thần, bắp chân và bắp đùi của ngài mà nếu được lắp vào và dựng lên sẽ trở thành một hình nộm khổng lồ. Hình nộm này sẽ bị đốt vào cuối vở kịch. Những chiếc khung bằng mây gợi nhớ một sự tương đồng có thể đoán trước: bản sonnet của Shelley về bức tượng đổ của Ozymandias và đế chế của ngài, “tấm thân tàn vĩ đại” trong sa mạc hoang vu. Những người đánh trống đã đốt một ngọn lửa trong lán và đưa lớp vỏ bịt trống lại gần ngọn lửa để siết căng hơn. Những ngọn lửa màu vàng nghệ, thảm cỏ tươi sáng và những khung đan bằng tay của các bộ phận cơ thể vị thần sẽ bị đốt không phải ở một sa mạc nào đó nơi sức mạnh đế chế đã sụp đổ mà là một phần của một nghi lễ, một mùa xuân vĩnh cửu mà, cũng như vụ đốt mía, được lặp đi lặp lại hàng năm, thời điểm hiến tế này là sự lặp lại mùa xuân đó, thời điểm thiêu hủy này là sự hồi sinh mùa xuân đó qua ngọn lửa.

Các vị thần đang tiến vào bãi đất. Những gì chúng ta gọi chung gọi là “Nhạc Ấn” đang vang lên rộn rã từ khu lán biểu diễn ngoài trời mà từ đó câu chuyện sử thi sẽ được thuật lại. Các diễn viên đã hoá trang đang tới. Các vị hoàng tử và các vị thần, tôi cho là như vậy. Thật là một lời thú nhận không may! “Các vị thần theo tôi nghĩ” là cái nhún vai tượng trưng cho các cộng đồng dân cư Châu Phi và Châu Á chúng tôi. Tôi vẫn thường hình dung nhưng chưa bao giờ tận mắt xem Ramleela, cũng chưa bao giờ nhìn thấy nhà hát này, một bãi đất ngoài trời với lũ trẻ làng đóng vai các chiến binh, ông hoàng và thần thánh. Tôi không hề biết chủ đề của câu chuyện sử thi, nhân vật chính của nó là ai, những kẻ thù mà nhân vật này phải giao đấu, nhưng gần đây tôi đã chuyển thể trường ca Ôđixê cho một nhà hát tại Anh, lòng tin chắc rằng khán giả đã biết những thử thách của Ôđixê, người anh hùng của một sử thi khác ở vùng Tiểu Á, trong khi không một ai ở Trinilad biết gì hơn tôi về Rama, Kali, Shiva, Vishu ngoại trừ người Ấn, một cụm từ mà tôi dùng rất thiếu tự nhiên bởi đó là một kiểu nhận xét mà bạn vẫn còn có thể nghe tại Trinidad: “ngoại trừ người Ấn”.

Như thể là, ven đồng bằng miền trung còn có một cao nguyên khác, một cái bè trên đó Ramayana được diễn đơn sơ trên biển mía này, nhưng đó chỉ là một nhận định trên quan điểm người viết văn của tôi, và quan điểm đó sai. Tôi đã xem Ramleela tại Felicity như xem một vở kịch trong khi đó là tín ngưỡng.

Hãy nhân đôi cái khoảnh khắc tự kết án khi một diễn viên được hoá trang gật đầu với chiếc gương trước khi dừng lại trên sân khấu với niềm tin rằng anh là một [con người của] hiện thực bước vào một ảo ảnh, và bạn cũng sẽ đoán như tôi những gì đang xảy ra với những diễn viên của vở sử thi này. Nhưng họ không phải là diễn viên. Họ đã được chọn lựa; hay bản thân họ đã lựa chọn vai diễn của họ trong câu chuyện linh thiêng sẽ diễn liên tục trong chín buổi tối mỗi buổi trong hai giờ đồng hồ cho tới khi mặt trời lặn. Họ không phải là diễn viên nghiệp dư mà là những tín đồ. Không có một khái niệm về kịch nghệ nào để định nghĩa họ. Họ không cần phải chuẩn bị trạng thái tâm lý để diễn. Diễn xuất của họ có lẽ là sinh động và tự nhiên như những mũi tên tre kia xiên chéo đồng cỏ buổi chiều. Họ tin vào những điều họ đang diễn, trong sự thiêng liêng của ngôn từ, chân giá trị của Ấn Độ, trong khi tôi, do thói quen của nhà văn, lại tìm kiếm cảm giác bi thương, mất mát, thậm chí bắt chước tội nghiệp trên khuôn mặt rạng rỡ của các cậu bé-chiến binh hay dáng nhìn nghiêng kiêu dũng của các ông hoàng miệt vườn. Tôi đã làm hỏng buổi chiều với sự nghi ngờ và thán phục kiểu kẻ cả. Tôi đã hiểu sai sự kiện này thông qua một tiếng vang gợi hình Lịch sử - những cánh đồng mía, bản giao kèo, hồi tưởng về những đội quân đã mất, những ngôi đền và những con voi rống – trong khi tất cả xung quanh tôi là hoàn toàn đối lập: niềm vui sướng, phấn khích trong tiếng hét của các cậu bé, trong những quầy bánh kẹo, càng lúc những nhân vật hóa trang xuất hiện càng nhiều; nỗi phấn khích của niềm tin, chứ không phải sự mất mát. Cái tên Felicity (niềm chân phúc) quả thật có ý nghĩa như vậy.

Hãy xem xét phạm vi châu Á bị thu hẹp lại thành những mảnh vỡ này: những tháp cầu kinh sơn trắng bé nhỏ tội nghiệp hay chóp đá tròn những ngôi đền trên những cánh đồng mía, và ta có thể hiểu sự lúng túng và tự giễu mình của những ai thấy những nghi lễ này là khôi hài, thậm chí suy đồi. Những người theo chủ nghĩa thuần túy đó xem những nghi lễ kiểu này cũng như nhà văn phạm nhìn một phương ngữ, như thành phố nhìn tỉnh lẻ và các đế quốc nhìn thuộc địa của mình. Ký ức khao khát được nhập vào trung tâm, chân tay nhớ tới cơ thể mà nó đã bị cắt rời, như những bắp đùi bằng tre của vị thần. Nói cách khác, là theo kiểu người ta vẫn coi người dân vùng Caribê là không hợp pháp, không nguồn gốc, lai tạp. Froude đã viết: “Không có con người (people) ở đó, hiểu theo đúng nghĩa của từ". Không có con người. [Mà chỉ có] mảnh vỡ và tiếng vang của những con người thực sự, không nguồn gốc và vụn vỡ.

Buổi biểu diễn giống như một phương ngữ, một nhánh của ngôn ngữ gốc, một bản tóm tắt của nó, nhưng không phải là sự bóp méo hay thậm chí sự rút gọn quy mô sử thi của nó. Tại đây, ở Trinidad, tôi đã khám phá ra rằng một trong những sử thi vĩ đại nhất của thế giới được diễn theo mùa, không phải với cố gắng tuyệt vọng bảo tồn một nền văn hóa, mà với sự rộng mở một niềm tin vững chãi như làn gió uốn cong ngọn mía trên bình nguyên Caroni. Chúng tôi phải rời đi trước khi đoàn kịch bắt đằu diễu qua những doi đất của Đầm Caroni, để ngắm những con cò quắm quay trở về lúc trời chạng vạng tối. Trong một màn trình diễn hồn nhiên như những diễn viên của Ramleela, chúng tôi ngắm từng đàn cò bay về, rực sáng như màu đỏ thắm của các cậu bé bắn cung, như những lá cờ đỏ, và bao phủ một hòn đảo nhỏ cho tới khi nó chuyển thành một cây nở đầy hoa, một loài hoa bất tử. Tiếng thở dài của Lịch Sử chẳng có nghĩa lý gì tại đây. Hai quang cảnh này, vở Ramleela và bầy cò quắm đỏ rực bay thành hình cánh cung trên nền trời, quyện với nhau thành một hơi thở duy nhất của lòng biết ơn. Nỗi ngạc nhiên trước những gì trông thấy là tự nhiên ở người dân vùng Caribê; sự ngạc nhiên này đến cùng phong cảnh, và đứng trước vẻ đẹp của nó, tiếng thở dài của Lịch Sử tan biến.

Chúng ta đã rên lên quá nhiều những tiếng than dài nhấn mạnh quá khứ. Tôi thì cảm thấy muốn khám phá những con cò quắm cũng như các cung thủ với phục trang đỏ rực của lễ hội Fecility.

Tiếng thở dài của Lịch Sử dậy lên trên những đống đổ nát chứ không phải trên những phong cảnh, thế mà tại vùng Antilles, có rất ít cảnh đổ nát để có thể thở dài, ngoài cảnh đổ nát của những đồn điền mía và pháo đài bỏ hoang. Chầm chậm đưa mắt nhìn quanh, như một chiếc camera, ngắm nhìn những ngọn đồi thấp màu xanh trên Cảng Tây Ban Nha, đường làng và những ngôi nhà, những chiến binh bắn cung, diễn viên đóng vai các vị thần và người huấn luyện họ, và âm nhạc đã được lồng vào, tôi muốn dựng một bộ phim vốn sẽ là tiếng thở dài bên trên Fecility. Tôi đang nhớ lại buổi chiều với những hồi tưởng về một Ấn Độ đã mất, nhưng tại sao lại là “những hồi tưởng?” Tại sao lại không phải là “lễ kỷ niệm một sự hiện diện có thật”? Tại sao Ấn Độ lại “bị mất” khi không một ai trong ngôi làng này thực sự biết nó, và tại sao lại không “tiếp tục”, tại sao không lặp lại không khí hân hoan tại Fecility và tại tất cả những địa danh khác của đồng bằng Miền Trung: Couva, Chaguanas, Charley Village? Tại sao tôi lại không để niềm vui của mình rộng mở? Tôi đang bị cuốn hút như bất kỳ người Trinidad nào vào nỗi ngây ngất xuất thần hoàn toàn chính đáng của họ, vì nỗi ngây ngất đó chính là đỉnh điểm những nhịp trống uyển chuyển phát trên loa. Tôi được phép tham dự lễ Husein, tới những chiếc gương và những đền thờ làm bằn giấy kếp của sử thi đạo Hồi, tới lễ hội múa rồng của người Hoa, tới những lễ hội của giáo đường Do Thái gốc Tây Ban Nha mà có thời từng ở trên Something Street (con đường gì đó). Giá như tôi mang chứa trong mình tất cả những mảnh vỡ ngôn ngữ của Trinidad, thì tôi đã chỉ là một phần tám của nhà văn mà tôi có thể đã trở thành.

Thử đánh vỡ một cái bình xem. Cái tình yêu khả dĩ hàn gắn lại được những mảnh vỡ, nó mạnh hơn cái tình yêu vốn coi sự cân đối hài hòa của cái bình là đương nhiên khi nó hãy còn là cái bình nguyên vẹn. Chất keo gắn những mảnh vỡ lại là xi niêm phong hình dáng ban đầu của nó. Cũng chính một tình yêu như vậy đã hàn gắn những mảnh vỡ Á-Phi, những vật gia truyền nứt vỡ mà việc khôi phục lại cho thấy những vết sẹo trắng của nó. Việc tập hợp những mảnh vỡ này là mối quan tâm và nỗi đau của Antilles, và nếu những mảnh vỡ khác hẳn nhau, không khớp với nhau, chúng chứa đựng nhiều đau đớn hơn cái sản phẩm ban đầu, những thánh tượng và những chiếc bình thiêng ở nơi chốn ngàn xưa của chúng. Nghệ thuật của người Antilles là sự khôi phục những lịch sử tan nát của chúng tôi, những mảnh vỡ từ vựng của chúng tôi, quần đảo của chúng tôi trở thành đồng nghĩa với những mảnh vỡ tách ra từ lục địa ban đầu.

Và đây chính là quá trình làm nên thơ ca, hay đúng hơn, ta không nên gọi việc đó là “làm nên” (“making”, sáng tạo/ làm ra) mà là “tái hợp” (“remaking”: làm lại, tạo lại) cái ký ức bị phân tán, bộ khung hình nộm của vị thần, thậm chí là nghi lễ dâng hình nộm đó lên giàn thiêu vào giây phút cuối cùng; vị thần được kết nối bằng mây, đan bằng lau, bện bằng thừng, như những nghệ nhân làng Fecility sẽ dựng nên tiếng vang linh thiêng của ngài.

Thơ ca, vốn là mồ hôi của sự hoàn hảo nhưng cũng phải được xem tươi rói như những hạt mưa trên chân mày một bức tượng, kết hợp cái thuần khiết tự nhiên với cái chất cẩm thạch; nó chia động từ ở cả hai thì cùng một lúc: quá khứ và hiện tại, nếu quá khứ là một bức tượng thì hiện tại là những giọt sương hay những giọt mưa vương trên vầng trán của quá khứ. Có thứ ngôn ngữ bị chôn vùi và có từ vựng của cá nhân, và quá trình của thơ ca là quá trình khai quật và tự khám phá. Về giọng điệu, thanh âm của mỗi cá nhân là một phương ngữ; nó hình thành giọng điệu của riêng nó, từ vựng và nhạc tính của riêng nó mặc cho khái niệm đế chế của ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ Orymandias, ngôn ngữ thư viện và ngôn ngữ từ điển, ngôn ngữ tòa án và ngôn ngữ phê bình, và ngôn ngữ nhà thờ, trường đại học, giáo điều chính trị, ngôn ngữ điển phạm của các viện nghiên cứu. Thơ ca là một hòn đảo tách ra khỏi đất liền. Các phương ngữ tại quần đảo của tôi dường như tươi mới đối với tôi như những giọt mưa rơi trên trán pho tượng, không phải giọt mồ hôi lăn từ cái nhíu mày cổ điển của pho tượng cẩm thạch, mà là sự kết tinh của một thành tố tươi mới hơn, giữa nước mưa và muối.

Bị tước đoạt ngôn ngữ thủy tổ của họ, những bộ lạc bị bắt giữ và nô dịch sáng tạo ra những phiến đoạn ngày một lớn dần và ngày một kín thầm của một vốn từ vựng cổ, từ vựng sử thi, phát xuất từ châu Á và từ châu Phi nhưng đưa tới một tiết tấu xa xưa, cuồng nhiệt từ trong máu mà chế độ nô lệ hay giao kèo làm thuê không thể khuất phục, trong khi các danh từ được đặt tên lại và những tên địa danh có sẵn được chấp nhận như làng Fecility hay Choiseul. Ngôn ngữ thủy tổ biến mất vì suy kiệt do khoảng cách xa xôi diệu vợi như sương mù cố vượt đại dương, nhưng quá trình đặt lại tên - hay tìm những phép ẩn dụ mới - này, là cùng một quá trình mà nhà thơ gặp vào mỗi buổi sáng và biến nó thành công cụ của riêng mình như Crusoe, kẻ tập họp các danh từ do sự cần thiết, từ Fecility, thậm chí đặt lại tên cho bản thân anh ta. Con người bị tước đoạt đã quay trở lại cái sức mạnh cơ bản tự kinh ngạc về mình, ấy là khối óc của anh ta. Đó là cái gốc của trải nghiệm Antilles, những mảnh vỡ trôi dạt từ lục địa này, những tiếng vang này, những mảnh vỡ của một vốn từ vựng bộ lạc rộng lớn, những phong tục được phần nào ghi nhớ, và chúng không mục rữa mà tồn tại mãnh liệt. Chúng đã sống sót qua hành trình vượt biển khủng khiếp trên những con tàu buôn nô lệ da đen [1] và sống sót trên Fatel Rozack, con tàu mang theo những người thợ làm thuê người Ấn Độ đầu tiên từ cảng Madras tới những bãi mía của Felicity, mang theo người tù Cromwel bị xiềng và người Do Thái gốc Tây Ban Nha, nhà buôn thực phẩm người Trung Quốc và thương gia Liban bán những mẫu vải trên xe đạp.

Và họ đang ở đây, tất cả trên thành phố Caribê đơn độc này, Cảng Tây Ban Nha, bản tổng kết của lịch sử, “phi dân tộc” (non-people) của Trollope. Quang cảnh tấp nập của khu trung tâm: ánh đèn cửa hiệu và đèn đường, hỗn tạp, đa ngôn ngữ, sự náo loạn không hề có lịch sử, giống như thiên đường. Bởi một thành phố như thế, ở Thế Giới Mới, thì chính là phải thế, một thiên đường của nhà văn.

Một nền văn hóa, như chúng ta đều biết, được tạo nên từ những thành phố của nó.

Lại một buổi sáng đầu tiên về nhà, sốt ruột đợi chờ bình minh lên - một giấc ngủ chập chờn. Vào lúc năm giờ trời còn tối, và chẳng bõ công hất chăn ra làm gì; sau đó, trong một tia sáng bất chợt ập tới, trạm cảnh sát có mái màu nâu và tường màu kem bao quanh là những cây cọ hoàng gia thấp, kiểu thuộc địa, đằng sau là những cái cây tạo bọt và những cây cọ cao hơn, một con chim bồ câu vỗ cánh bay về nơi trú ẩn, một khu nhà tù đọng nước bẩn từng có thời là những căn hộ hiện đại, con đường buổi sáng dẫn vào trạm cảnh sát không hề có xe cộ lại qua. Tất cả đều tĩnh lặng đến kỳ lạ. Cái tĩnh lặng này vẫn thường diễn ra với mọi chuyến viếng thăm thành phố in đậm trong tâm trí tôi. Những khóm hoa và những ngọn đồi thư thái; thật dễ hiểu vì sao ta yêu mến chúng; chính kiến trúc, trong buổi sớm đầu tiên, làm ta mất hướng. Một chuyến trở về từ những cám dỗ Hoa Kỳ thường khiến khách du lịch cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó, một cái gì đó đang cố gắng tự hoàn tất, như những căn hộ bằng bê tông nhớp nhúa. Những vũng nước đọng dọc theo các cửa sổ và cầu tiêu nhô ra - một thành phố đang cố gắng vươn mình, cố gắng trở nên hung bạo, như bóng mờ một thành phố của nước Mỹ, đúc từ cùng một khuôn như Columbus hay Des Moines. Một sự khẳng định quyền lực, trang trí nội thất nhạt nhẽo, máy điều hòa vặn hết cỡ tới mức toàn bộ nhân viên và ban lãnh đạo đua nhau mặc áo len; những văn phòng càng lạnh lẽo thì lại càng [có vẻ] quan trọng hơn, sự bắt chước một khí hậu khác. Một niềm khát khao, thậm chí là ghen tị cảm giác lạnh.

Tại những thành phố nghiêm trang, trong mùa đông xám xịt, khắc nghiệt cùng với những buổi chiều ngắn ngủi, ngày dường như trôi qua trong những chiếc áo choàng cài nút kín mít, mọi khu nhà trông như trại lính với đèn chiếu sáng qua những ô cửa sổ, và khi tuyết rơi, người ta có ảo giác như đang sống trong một cuốn tiểu thuyết Nga vào thế kỷ 19, bởi không khí của mùa đông. Vì vậy du khách tới Caribê phải cảm thấy rằng họ đang sống trên những tấm bưu thiếp nối tiếp nhau. Cả hai khí hậu đều hình thành nên từ những gì chúng ta đã đọc. Đối với du khách, mặt trời chói chang không thể là [một cái gì] nghiêm trọng được. Mùa đông mang lại thêm chiều sâu và bóng tối cho cuộc sống cũng như cho văn học, còn trong mùa hè kéo dài không dứt của vùng nhiệt đới thì cả sự đói nghèo lẫn thơ ca (ở Antilles thì cái nghèo (poverty) là thơ (poetry) có thêm một chữ V, “une vie” (cuộc đời) một điều kiện cho cuộc sống cũng như trí tưởng tượng) đều không thể có chiều sâu, bởi thiên nhiên xung quanh luôn hân hoan đến thế, ngây ngất tràn cung mây đến thế, như âm nhạc của nó. Một niềm văn hóa dựa trên niềm vui thì ắt hẳn thiếu chiều sâu. Thật đáng buồn; để bán chính mình, người Caribê khích lệ sự hưởng lạc vô tư lự, sự hào nhoáng trống rỗng, như là một nơi mà kẻ khác tìm về để chạy trốn không chỉ mùa đông mà chạy trốn cả sự nghiêm trọng vốn chỉ xuất phát từ những nền văn hóa có bốn mùa. Vậy làm sao có thể có một dân tộc ở chốn này, một dân tộc theo đúng nghĩa của nó?

Họ chẳng biết gì về mùa lá rụng trong năm, những ngọn tháp mờ đi trong bão tuyết và những đường phố trắng xóa, thành phố chìm trong sương mù, những ưu tư khi ngồi bên lò sưởi; thay vào đó họ sống tại vùng địa lý mà tiết tấu của nó, cũng như âm nhạc của họ, chỉ giới hạn trong hai đối cực: nóng và ẩm, nắng và mưa, sáng và tối, ngày và đêm, những giới hạn của một nhịp điệu không hoàn chỉnh, và do đó là một dân tộc không có khả năng [cảm nhận] cái tinh tế của sự đối lập, sự phức tạp mang tính sáng tạo. Đành vậy thôi. Chúng tôi không thể thay đổi sự coi thường này.

Những thành phố của chúng tôi không phải là thành phố theo nghĩa thường được chấp nhận, nhưng cũng không ai muốn chúng như thế. Chúng tự chỉ định quy mô của chúng, tự đặt ra định nghĩa của chúng ở những nơi cụ thể và trong một thứ văn xuôi tương đương với thứ văn xuôi của những kẻ gièm pha chúng, vậy nên giờ đây không chỉ là St. James mà còn là những con đường và khoảnh sân mà Naipaul biến thành bất hủ; những con hẻm vừa ngắn vừa tỏa sáng như những câu văn của ông; không chỉ cảnh ồn ào náo nhiệt của Tunapuna mà còn là nguồn gốc của Bên ngoài ranh giới (Beyond a Boundary) của C.L.R.James, không chỉ làng Felicity trên bình nguyên Caroni mà là Selvon Country, và cứ thế đi từ các thành phố lên những hòn đảo: đảo Dominica xưa kia của Jean Rhys vẫn hầu như nguyên vẹn như hồi bà viết về nó; và đảo Martinique của Césaire thời trẻ; Guadeloupe của Perse, cho dù không có những chiếc nón bảo vệ bằng ruột cây và những chú la; và có xiết bao ngất ngây, xiết bao cảm giác hể hả đặc quyền khi quan sát một nền văn chương - một nền văn chương bằng một số thứ tiếng đế quốc: Pháp, Anh, Tây Ban Nha - khai sinh và mở ra cho chúng tôi hết hòn đảo này đến hòn đảo khác trong buổi bình minh của một nền văn hóa, không chút rụt rè hay mặc cảm hơn những cánh hoa frangipani cứng màu trắng rụt rè và mặc cảm. Đây chẳng phải là huênh hoang trơ tráo mà chỉ đơn giản là hân đón điều không tránh khỏi: rằng sự đơm hoa kết trái này nhất định phải xảy ra.

Vào một buổi chiều nóng như thiêu trên Cảng Tây Ban Nha (Port of Spain), vài đại lộ ngập nắng trắng lóa, với dây nho uốn mình qua hàng rào, những cây cọ và một ngọn núi mờ hiện lên một góc gợi ta nhớ đến “thành phố rợp mát bóng cọ” của Vaughn hay Herbert, hay nhớ lại một cây đàn organ Hammond ở một giáo đường bằng gỗ tại Castries, nơi giáo đoàn hát “Jerusalem, Thành phố Vàng”. Tôi khó lòng xem sự trống rỗng dường ấy là sự nghèo nàn. Chính sự nhẫn nại này là chiều kích rộng lớn của đời sống Antilles, và bí quyết nằm ở chỗ không hỏi về điều ác ở nó, không đòi hỏi ở nó một tham vọng mà nó không quan tâm tới. Khách du lịch thì gọi đây là trạng thái uể oải, trì trệ, hôn trầm.

Người ta nói ở đây không có đủ sách, không nhà hát, không viện bảo tàng, đơn giản là không đủ. Thế mà, do không có sách, người ta phải cậy vào tư duy, và tư duy, nếu anh ta có thể học cách khép tư duy vào trật tự, sẽ dẫn đến sự cấp thiết phải ghi lại, và cùng lắm, nếu anh ta không có phương tiện nào để ghi thì phải học thuộc lòng, [nghĩa là] cách sắp đặt trí nhớ dẫn đến vần điệu, dẫn đến sự tưởng niệm. Có những đức hạnh trong sự thiếu thốn, và chắc chắn một trong các đức hạnh đó là sự thoát khỏi một dòng thác của sự tầm thường cao độ, bởi vì hiện nay những cuốn sách được sáng tạo ra không nhiều như những cuốn sách được xào nấu lại. Các thành phố tạo nên một nền văn hóa, và tất cả những gì chúng tôi có là những đô thị chợ búa được phóng đại này, thế nên đâu là quy mô của thành phố Caribê lý tưởng? Một miền quê bao quanh, gần gũi với những vùng ngoại ô rợp lá, và nếu may mắn, thành phố đó có cả những bình nguyên rộng lớn đằng sau. Đằng sau thành phố, những ngọn núi hùng vĩ; đằng trước thành phố, biển màu chàm. Những ngọn tháp mọc lên ở trung tâm thành phố và chung quanh là những công viên râm mát bóng cây. Bồ câu sẽ bay theo đội hình chữ cái ngang qua bầu trời thành phố, mang theo chúng ký ức về một niềm tin vào điềm báo, và ngay tâm điểm thành phố sẽ là những con ngựa, vâng, ngựa, những con vật mà người ta nhìn thấy lần sau cùng vào cuối thế kỷ mười chín đang kéo những cỗ xe chở những công dân đội mũ cao nghí ngố, những con ngựa sống trong thì hiện tại mà không có tiếng vang hoài cổ từ những cái móng chúng mang, nhô ra từ những bãi chăn ở Công viên Nữ hoàng Savannah lúc hoàng hôn, khi sương đang loãng dần từ những ngọn núi mát lạnh bên trên các mái nhà, và ở trung tâm thành phố cứ đến mùa lại có những cuộc đua ngựa, để người dân có thể hò reo cổ vũ tốc độ và vẻ duyên dáng của những con vật thế kỷ mười chín đó. Những ụ tàu của thành phố đó, không ám khói hay nhức óc đinh tai vì quá nhiều máy móc, và trên tất cả, thành phố đó sẽ khác nhau về sắc tộc đến nỗi những nền văn hóa trên khắp thế giới - châu Á, Địa Trung Hải, châu Âu, châu Phi - đều tìm thấy chính mình trong nó, sự muôn màu muôn vẻ nhân gian của nó còn hấp dẫn hơn Dublin của Joyce. Công dân của nó sẽ kết hôn với nhau theo họ chọn, theo bản năng chứ không phải truyền thống, chừng nào bọn trẻ con ngày càng cảm thấy phi lý cái việc truy nguyên về phả hệ. Nó sẽ không có quá nhiều đại lộ khó đi hoặc nguy hiểm cho khách bộ hành, khu vực buôn bán của nó sẽ là một mớ tạp pí lù những âm sắc, những khúc đoạn của ngôn ngữ cổ xưa nhưng cứ hễ đến năm giờ chiều là im bặt, còn các ụ tàu thì dứt khoát là trống rỗng vào các ngày Chủ nhật.

Đối với tôi, đây là Cảng Tây Ban Nha, một thành phố lý tưởng với qui mô thương mại và tầm vóc nhân văn của nó, nơi công dân là người đi bộ chứ không phải khách bộ hành, ắt hẳn Athens từng là như thế trước khi trở thành một tiếng vang văn hóa.

Những hình ảnh đẹp nhất của Cảng Tây Ban Nha là mẫu hình lý tưởng các tác phẩm của người thợ thủ công, không phải bằng bê tông và kính, mà là các công trình bằng gỗ chạm khắc theo phong cách Ba rốc, mỗi công trình phóng túng trông như một bức vẽ về chính công trình đó hơn là tòa nhà thực sự. Phía sau thành phố là bình nguyên Caroni với những ngôi làng, ngọn cờ cầu nguyện của người Ấn Độ, và gian hàng của những người bán hoa quả dọc theo xa lộ có những cánh cò quắm lượn bên trên như những ngọn cờ phấp phới. Cái nghèo khổ được đưa lên ảnh! Nét buồn được khuôn vào bưu thiếp! Tôi không tái tạo lại vườn địa đàng; ý tôi là, khi nói “Antilles”, tôi muốn nói về tính hiện thực của ánh sáng, lao động, sự sống. Tôi muốn nói tới một ngôi nhà nằm ven đường làng, tôi muốn nói tới biển Caribê mà mùi hương của nó có khả năng làm mát dịu lòng người cũng như là mùi hương của sự sống. Sự sống là chiến công của tính ngang bướng, tính ngang bướng về tinh thần, một sự ngu dốt được thăng hoa, là những gì làm cho sự ngự trị của thơ ca thành bền bỉ, khi có quá nhiều thứ có thể làm cho nó trở nên phù phiếm. Những thứ đó, khi gộp lại cùng nhau, có thể cùng gọi dưới một danh từ tập hợp: “thế giới”.

Vậy, đây là thơ ca hiển hiện của Antilles. Sự Sống.

Nếu bạn muốn hiểu niềm thương hại đầy an ủi của người ta đối với những hòn đảo này, hãy ngắm nhìn hình chạm nổi đầy màu sắc của những cánh rừng Antilles, với những cây cọ, dương xỉ và thác nước. Chúng mang một sự lịch thiệp văn minh hóa, như những Vườn bách thảo, như thể vòm trời được làm bằng kính dưới đó là là một thảm thực vật được bố trí dành cho những con đường dạo mát vắng vẻ hay xe ngựa dạo chơi. Những quang cảnh như vậy được khắc sâu một cảm hứng khiến nhà điêu khắc phải miệt mài với đồ nghề còn người vẽ bản đồ địa hình cầm cây bút chì, và chính cảm hứng đó, vói một chút mỉa mai, mang cho ngôi làng những cái tên như là Felicity. Một thế kỷ ngắm nhìn bức tranh phong cảnh đầy giận dữ với thảm thực vật ngược chiều sáng và dưới con mắt lầm lạc. Chính những bức tranh đó làm ta buồn lòng hơn là bản thân những vùng nhiệt đới. Những bức chạm tinh tế nổi bật trên nền trời của những nhà máy đường và bến cảng, của những người phụ nữ bản địa mặc trang phục địa phương, được coi là một phần của Lịch Sử, cái Lịch Sử nhìn qua đôi vai của người thợ chạm và sau đó, người vẽ bản đồ. Lịch sử có thể đổi mắt và di chuyển cánh tay cho vừa tầm nhìn của chính mình; có thể đặt lại tên các địa danh cho nỗi niềm luyến tiếc một âm vang; Lịch sử có thể làm dịu đi sự chói lòa của tia sáng nhiệt đới cho hợp với sự đơn điệu u hoài trong văn xuôi, giọng điệu phê phán trong văn của Conrad, trong những cuốn nhật ký hành trình du lịch của Trollope.

Những nhà du lịch này gieo rắc khắp nơi nỗi sầu muộn của riêng họ, và văn của họ làm cho ngay đến phong cảnh cũng chỉ còn là u sầu và tự khinh mình. Mọi nỗ lực bị xem thường là bắt chước, từ kiến trúc cho tới âm nhạc. Lời buộc tội này có trong lập luận của Froude rằng do Lịch sử dựa trên những thành tựu, và do lịch sử của Antilles mục nát truyền kiếp, quá tồi tệ trong vòng thảm sát, nô lệ và giao kèo làm thuê, nên không thể hình dung một nền văn hóa [của riêng Antilles] và không có gì có thể được sáng tạo ra trong những bến cảng xiêu vẹo này, những đồn điền trồng mía phong kiến tẻ ngắt đơn điệu này. Không chỉ ánh sáng và muối của những dãy núi Antilles thách thức điều khẳng định này, mà cả sức sống mãnh liệt và sự phong phú đa dạng của cư dân của nó. Hãy đứng gần một thác nước, bạn sẽ không còn nghe tiếng thác gầm. Muốn vẫn ở thế kỷ mười chín, giống như những con ngựa mà Brodsky đã viết, có thể không phải là quá khó, và phần lớn cuộc sống của chúng tôi tại Antilles dường như vẫn trong nhịp điệu của thế kỷ trước, giống như trong tiểu thuyết của người Tây Ấn.

Bởi, các nhà văn dù luôn luôn tươi mới như Graham Greene, người ta nhìn người dân Caribê với một cảm hứng bi ai, một nỗi buồn thống thiết mà Levi-Strauss đã đặt cho một lời đề từ: Nỗi buồn nhiệt đới (Tristes Tropiques). Nỗi buồn của họ xuất phát từ thái độ đối với hoàng hôn Caribê, trước những cơn mưa, trước cây cối rậm rịt um tùm, trước cái khát vọng của thành phố Caribê nơi những bản sao thô bạo của kiến trúc hiện đại khiến những ngôi nhà và khu phố nhỏ trở nên lùn tịt. Tâm trạng này thật dễ hiểu; nỗi buồn lây lan như cơn sốt lúc hoàng hôn, như những chiếc lá lược màu vàng úa của những cây cọ dừa bị bệnh, nhưng có điều gì đó thật lạ lẫm và rốt cuộc là sai lầm trong cái cách mà một nỗi buồn như vậy, thậm chí một sự chết chóc như vậy, được miêu tả bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, hay thứ tiếng nào đó của các nhà văn lưu vong của chúng ta. Nỗi buồn đó là do sự thiếu hiểu biết [của các nhà văn này] về ánh sáng và những con người mà ánh sáng đó lan tỏa trên người họ.

Các nhà văn này miêu tả khát vọng của những thành phố chưa hoàn tất của chúng tôi, cái kết cục dông dài không thể thực hiện của chúng, nhưng thành phố Caribê chỉ có thể đi đến kết cục khi nó hài lòng với quy mô của chính mình, cũng như nền văn hóa Caribê không phải đang tiến hóa mà đã được định hình. Tầm vóc của thành phố này không thể được đo bằng các vị khách du lịch hay kẻ lưu vong, mà bởi chính những công dân và kiến trúc của nó. Một khi người ta bảo chúng tôi chưa phải là một thành phố hay một nền văn hóa, chúng tôi cần phải trả lời như thế này: Tôi không phải là thành phố hay nền văn hóa của các người. Ắt hẳn sẽ bớt có những Tristes Tropiques (Nhiệt đới buồn) hơn sau khi [người ta] nghe được câu trả lời này.

Ngay tại đây, trên chiếc bè lênh đênh của bệ diễn thuyết này, có âm thanh những làn sóng vỗ tay: đất đai của chúng tôi, lịch sử của chúng tôi “cuối cùng” cũng được công nhận. At last (Cuối cùng) là một trong những cuốn sách đầu tiên của Caribê do Charles Kingsley, một nhà đi biển thuộc triều đại Victoria viết nên. Đó là một trong những cuốn sách đầu tiên đưa cảnh quan và con người Antilles vào văn học Anh. Tôi chưa bao giờ đọc cuốn sách này, nhưng đoán rằng lời lẽ của cuốn sách đó hết sức hiền lành. Quần đảo Antilles có đó là để được đưa vào sách - chứ không phải nó tự viết về mình - bởi Trollope, bởi Patrick Leigh-Fermor, bằng chính cái giọng điệu mà tôi đã viết về cảnh tượng ngoạn mục tại Fecility, [nghĩa là] như một người người ngoài cuộc đầy cảm thông và phấn khích, tự tách mình khỏi làng Fecility ngay cả khi mình đang thưởng ngoạn nó. Những gì anh không thấy thì anh không thể yêu được. Du khách không thể yêu, bỏi tình yêu là cái gì đó kiên định, không đổi, trong khi đó du lịch là cái xê dịch, thay đổi. Nếu anh ta quay trở về với những gì anh ta yêu mến tại một vùng đất và ở lại đó, anh ta sẽ không còn là khách du lịch mà đã cố định và chuyên tâm vào một nơi, người yêu quý mảnh đất cụ thể đó, một người bản xứ. Vì vậy nhiều người tuyên bố họ “yêu con người Caribê”, nghĩa là một ngày nào đó họ dự định sẽ quay trở lại thăm nơi này nhưng họ sẽ không bao giờ có thể sống tại đó, một sự xúc phạm nhẹ nhàng thường thấy của kẻ xê dịch, khách du lịch. Những vị khách du lịch này, dù tốt bụng cách mấy, cũng chỉ đến đây như hạ cố ghé thăm những hòn đảo thấp thoáng lướt qua, cây cối xum xuê rậm rạp, sự lạc hậu và nghèo đói. Văn xuôi thời Victoria đã tô son trát phấn cho chúng. Người ta lướt qua những hòn đảo này chỉ thấy những hình ảnh tươi đẹp rồi quên bẵng chúng ngay, như một kỳ nghỉ hè vậy.

Alexis Saint-Léger, bút danh Saint-John Perse, là người Antilles đầu tiên dành giải thưởng này (Nobel) cho thơ ca. Ông sinh tại Guadeloupe và viết bằng tiếng Pháp, nhưng trước ông, không có gì tươi mới và rõ ràng trong cảm xúc như những bài thơ thời thơ ấu của ông, của một đứa trẻ da trắng được hưởng đặc quyền trong một đồn điền Antilles, Pour Feter une Enfance, Eloges và sau đó là Images a Crusoe. Cuối cùng, ngọn gió đầu tiên trên trang giấy, mang theo muối và luồng sinh khí mới như những ngọn gió mậu dịch, tiếng sột soạt của những trang giấy và những cành cọ chuyển thành “hương vị cà phê toả ra trên những tầng lầu”.

Thiên tài vùng Caribê bị kết tội tự phản lại chính mình. Để kỷ niệm Perse, như người ta có thể nói, là để kỷ niệm một hệ thống đồn điền cổ xưa, để tưởng nhớ những người chủ đồn điền, những hàng hiên và những người đày tớ da ngăm, một thứ tiếng Pháp của người da trắng với cái mũ chụp của người da trắng, để tưởng nhớ một kiểu nói năng đường bệ và kiêu bạc; và thậm chí dù Perse phủ nhận nguồn gốc của ông, các nhà văn vĩ đại thường có thói điên là cố gắng che giấu nguồn gốc của họ, chúng ta không thể phủ nhận ông hơn là có thể phủ nhận Aime Cesaire của châu Phi. Đây không phải là thỏa hiệp, đây là nước cộng hòa châm biếm vốn dĩ chính là thơ, do đó mỗi khi nhìn thấy những cành cọ đung đưa tàu lá lúc hoàng hôn, tôi nghĩ rằng chúng đang đọc thơ của Perse.

Thơ ca ngát hương và cao quí mà Perse sáng tác để tưởng nhớ tuổi thơ da trắng của ông và những bản nhạc Ấn Độ vang lên đằng sau những chàng cung thủ da nâu của Fecility, với những cành cọ uốn cong trên cùng một bầu trời Antilles đều làm tôi nhức nhối như nhau. Tôi cảm thấy cùng một nỗi tự hào buốt nhói trong những bài thơ cũng như trên từng khuôn mặt. Tại sao, dù lịch sử của Antilles như thế nào đi nữa, điều này lại khác thường đến như vậy? Lịch sử thế giới, tất nhiên chúng tôi muốn nói lịch sử châu Âu, là một kỷ lục về phá vỡ mối liên kết bộ tộc, về thanh lọc sắc tộc. Rốt cuộc, những hòn đảo không phải do người ta viết nên mà chính chúng tự viết! Những cây cọ và thánh đường Hồi giáo là những lời cảm thán của Antilles. Rốt cuộc! những cây cọ quí phái của Guadeloupe đọc thuộc lòng ẫloges.

Sau đó, trong Anabase, Perse tập họp những đoạn của một sử thi tưởng tượng, với những thanh sắt nhọn chĩa lên trời của những cửa quan biên ải, những con lạch khô cằn với gợn sóng lăn tăn của những hồ nhiễm độc, những kỵ sĩ áo choàng trùm kín đầu trong những cơn bão cát, đối lập với những buổi sớm lạnh của Caribê, nhưng không nhất thiết phải là đối lập hơn cậu bé bắn cung da ngăm nào đó ở Fecility, nghe những lời cầu nguyện thiêng liêng vang lên từ khoảng sân cờ bay phấp phới, với những trận chiến cùng những con voi và chúa khỉ, đối lập với những đứa trẻ da trắng ở Guadeloupe kẻ triệu hồi những khúc đoạn sử thi của chính mình từ những ngọn mía, từ những xe ngựa hay những con bò của đồn điền, và thư pháp những lá tre từ những ngôn ngữ cổ Hindu, chữ Hán và chữ A rập viết lên bầu trời Antilles. Từ Ramayana cho tới Anabasis, từ Guadeloupe cho tới Trinidad, tất cả di chứng khảo cổ của những mảnh vỡ đó ở quanh chúng tôi, từ những vương quốc châu Phi bị tàn phá, từ những kẽ nứt của Quảng Đông, từ Xyri và Libăng, rúng động không phải dưới lòng đất mà trên những đường phố ồn ào, bỗ bã của chúng tôi.

Một cậu bé mắt kém liệng một hòn sỏi nhẵn nhụi qua mặt nước phẳng lặng của vịnh Aegean [2], và cái hành động thường tình đó của khuỷu tay cong lưỡi liềm chứa đựng những dòng nhảy sóng của IliátÔđixê, và một đứa trẻ khác đang ngắm bắn mũi tên tre tại hội làng, một đứa khác nghe thấy nhịp diễu hành hối hả của những cây cọ lá quăn trong buổi bình minh Caribê, và từ tiếng động đó, cùng với những khúc đoạn từ huyền thoại thị tộc, phạm vi viễn thám anh hùng ca của Perse vươn xa hàng thế kỷ và hàng bao quần đảo. Đối với mỗi nhà thơ, thế giới luôn trong ánh ban mai. Lịch Sử là một đêm mất ngủ và bị lãng quên; Lịch Sử và nỗi sợ nguyên sơ luôn luôn là khởi đầu của chúng ta, bởi số phận của thơ ca là phải lòng thế giới, bất chấp cả Lịch Sử.

Có một xung lực hân hoan, một sự cung nghênh niềm may mắn khi nhà văn tự thấy mình là người chứng kiến buổi bình minh của một nền văn hóa đang tự khẳng định, từng cành một, từng lá một trong buổi rạng đông đang tự khẳng định ấy; đó là lý do tại sao tiến hành nghi lễ mặt trời mọc là một việc làm tốt đẹp, nhất là tại đường giáp ranh giữa biển với chân trời. Sau đó thì cái danh từ “Antilles” từ từ hiện lên như một dòng nước tỏa sáng, và âm thanh những chiếc lá, những tàu cọ, tiếng chim là những âm thanh của một phương ngữ tươi mới, tiếng bản địa. Từ vựng riêng và giai điệu riêng - mà nhịp phách của nó là tiểu sử mỗi người - hoà vào thanh âm đó, với tất cả mọi may mắn, và cơ thể di chuyển như một hòn đảo bừng tỉnh dậy bước đi.

Đây chính là một phép lành được đón chào hoan hỉ, một ngôn ngữ tươi mới và một dân tộc tươi mới, và đây là nghĩa vụ đáng sợ mà chúng tôi mắc nợ.

Tôi đứng đây dưới danh nghĩa của họ, nếu không phải là chính họ - nhưng cũng dưới danh nghĩa của phương ngữ mà mà họ trao đổi như những chiếc lá cây mà tên của chúng mềm mại hơn, xanh tươi hơn và làm khuấy động buổi sớm hơn là tiếng Anh - laurier canelles, bois-flot, bois-canot- hay những thung lũng mà những hàng cây gợi nhớ - Fond St. Jacques, Matoonya, Forestier, Roseau, Mahaut - hay những cành trơ trụi - L’anse Ivrogne, Case en Bas, Paradis - tất cả các bài hát và câu chuyện lịch sử về chính những địa danh này, không phải bằng tiếng Pháp mà bằng thổ ngữ.

Cứ hễ thức dậy, ta nghe hai thứ ngôn ngữ, một ngôn ngữ của những cây cối, một ngôn ngữ của các em học sinh đọc thuộc lòng bằng tiếng Anh:

Tôi là bá vương của tất cả những gì tôi đang khảo sát

Quyền lực của tôi ở đây không cần phải bàn cãi;

Từ quanh đây cho tận ngoài biển khơi

Tôi là chúa tể của bầy chim thú.

Ôi! cô đơn, còn đâu những quyến rũ

Nhà hiền triết đã nhìn thấy trên gương mặt ngươi?

Cứ hãy trụ trong lòng nỗi âu lo

Còn hơn ngự trị tại nơi khủng khiếp này…

Trong khi tại đất nước cùng nhịp điệu, nhưng từ nhạc cụ organ, violin làm bằng tay, chac-chac và trống da dê, một cô gái có tên là Sensenne cất tiếng hát:

Si mwen di ’ous ça Fait mwen la peine

’ous kai dire ça vrai

(Nếu em nói rằng anh đã làm em đau đớn

Anh sẽ nói rằng “Đúng thế”.)

Si mưen di ’ous ça pentetrait mwen

’ous peut dire ça vrai

(Nếu em nói anh đã làm tim em nhói đau

Anh sẽ nói rằng “Đúng thế”.)

Ces mamailles actuellement

Pas ka faire l’amour z’autres pour un rien.

(Trẻ em ngày nay

Chẳng cho không tình yêu bao giờ.)

Không phải Lịch sử bị lụi tàn bởi bình minh. Chính tại đó, vùng địa lý Antilles, trong chính màu xanh tại đó. Biển thở dài với những sinh linh bị ném xuống biển từ thời buôn nô lệ [3], sự thảm sát thổ dân bản địa, Carib và Aruac và Taino, tứa máu màu đỏ tươi của sự bất tử, và thậm chí hành động trượt trên cát không thể làm phai mờ ký ức Châu Phi, hay những ngọn mía như một nhà tù xanh nơi những ngưòi làm thuê châu Á, tổ tiên của Fecility, vẫn đang làm nô lệ của thời gian.

Đó là những gì tôi đã đọc từ thời niên thiếu, từ buổi đầu của thơ ca, từ nỗ lực. Trong lớp gỗ gụ cứng của những tiều phu: những gương mặt, những người đàn ông nhớp nháp mồ hôi, những người thợ đốt lò; trong một con người với một đoản kiếm lưỡi cong đặt ngang cánh tay đứng trên bờ vực cùng với con chó Kha ki vô danh quen thuộc; trong bộ quần áo mặc thêm vào buổi sáng này khi trời lạnh, khi anh thức dậy lúc trời chưa hửng sáng để đi làm vườn trên đồi cao, - đồi cao, khu vườn cách nhà anh hàng dặm, nhưng đó là nơi anh có mảnh đất của mình – chưa kể những người đánh cá, những người đi chân trần trên xe tải, tất cả những mảnh vỡ vốn dĩ của châu Phi nhưng đã hình thành, cố định và giờ đây cắm rễ vào chính cuộc sống của hòn đảo, vô văn tự cũng như những chiếc lá không cần văn tự; họ không biết đọc, họ có đó để người ta đọc họ, và nếu người ta đọc họ đúng cách, họ tạo ra nền văn học của chính họ.

Nhưng trong cuốn sách hướng dẫn du lịch, Caribê là một cái hồ xanh trong đó nữ thần cộng hòa đu đưa bàn chân kéo dài của Florida giữa những hòn đảo cao su được bơm căng bập bềnh và uống rượu trong khi những chiếc ô trôi về phía bà ta trên một chiếc bè. Đó là cách những hòn đảo do nỗi nhục của nhu cầu thiết thân mà buộc phải bán mình; đây là sự xói mòn định kỳ theo mùa cái bản sắc của họ, sự lặp lại với cường độ cao những hình ảnh dịch vụ giống nhau như đúc khiến không thể nào phân biệt được hòn đảo này với hòn đảo khác, với một tương lai của những bến cảng bị ô nhiễm, khế ước đất đai do các bộ trưởng đàm phán, và tất cả những điều này được tiến hành để tiến tới khúc nhạc Giờ May Mắn và ngoác miệng ra cười. Cái gì là thiên đường trên mặt đất cho du khách của chúng tôi? Hai tuần không mưa và làn da nâu bóng và, vào lúc hoàng hôn, những người hát rong đội mũ rơm và vận sơ mi nhàu nát gõ nhịp chí tử bài "Yellow Bird" (Con chim vàng) và "Banana Boat Song" (Bài ca con thuyền chở chuối). Có một lãnh thổ rộng lớn hơn thế -- vượt ra khỏi mọi biên giới trên tấm bản đồ một hòn đảo - đó là biển vô biên và những gì biển nhớ.

Tất cả những gì của Antilles, mọi hòn đảo, là một nỗ lực của ký ức; mọi khối óc, mọi ghi chép về chủng tộc rốt cuộc đều đưa đến sương mù và lãng quên. Những mảnh nắng xuyên qua sương mù và bất chợt cầu vồng, arcs-en-ciel. Đó chính là nỗ lực, là công lao nhọc nhằn của trí tưởng tượng Antilles, xây dựng lại những vị thần của mình từ cái khung tre, từng chữ từng chữ một.

Sự tàn sát kể từ thời Aruac là cội rễ tệ hại của lịch sử Antilles, và cái tai họa hiền lành vốn gọi là du lịch có thể đầu độc mọi dân tộc sống trên hòn đảo này, không phải từ từ mà với tốc độ chóng mặt, cho tới khi mỗi tảng đá trắng bệch ra bởi thứ phân chim của những khách sạn với hai bên sườn trắng, đỉnh cao và thoái trào của tiến bộ.

Trước khi tất cả mọi thứ qua đi, trước khi chỉ còn lại một vài thung lũng, những tàn tích của một cuộc sống cũ, trước khi sự phát triển biến mỗi người nghệ sĩ thành một nhà nhân chủng học hay một nhà folklore học, vẫn còn những nơi yêu dấu, những thung lũng nhỏ không đồng vọng vói ý nghĩ, sự giản đơn của những bước khởi đầu lại, hãy còn chưa hỏng bét bởi nguy cơ thay đổi. Không phải những nơi hoài cổ mà những chốn linh thiêng đóng cửa cũng bình dị và giản đơn như ánh nắng. Những nơi bị thứ văn xuôi này đe dọa, cũng như mũi đất bị xe ủi đe dọa san bằng, hay những cây hạnh biển bị sợi dây của nhà khảo sát đe dọa dập nát, hay những cây nguyệt quế núi bị bệnh nấm đe dọa làm trơ trụi.

Một chốn hiển linh cuối cùng: một nhà thờ đá trong một thung lũng sâu bên ngoài Soufri & Eagrave, những ngọn đồi gần như xô những ngôi nhà xung quanh xuống một dòng sông đục ngầu; ánh nắng lấp loáng trên những chiếc lá, một nơi lạc hậu, không quan trọng, và là một nơi đang bị thứ văn xuôi này làm băng hoại, biến nó thành “có ý nghĩa”. ý tưởng không nhằm làm cho nơi này trở nên thiêng liêng hay đầu tư vào đây bất cứ cái gì, ngay cả ký ức. Trẻ em châu Phi trong bộ lễ phục ngày Chủ nhật bước xuống cầu thang bằng bê tông vào nhà thờ, những bè lá chuối treo lấp loáng, một chiếc xe tải đậu trong sân và những cụ bà run run bước về phía cổng. Nơi đây lẽ ra phải treo một bức bích họa thực sự, một bức họa không có vẻ “quan trọng”, mà với lòng kính chúa thực sự, không [liên quan đến] bản đồ hay Lịch sử.

Tất cả có thể tan biến đi nhanh chóng làm sao! Và làm sao chúng ta lại có thể bắt đầu tiến xa hơn tới nơi mà chúng ta hy vọng là vùng cấm địa, những điều bí mật mới mẻ ở cuối những con đường gồ ghề, khúc khuỷu, những mũi đất không bóng dáng một khách sạn mà chỉ là những cồn cát mênh mông không một bóng người và sự băn khoăn không biết liệu có phải là khói bay ra từ nhà những người dân chài tận phía cuối con đường xa tít. Đối với người bản địa, Caribê không phải là một chốn điền viên. Họ lấy sức mạnh từ đó một cách hữu cơ, giống như cỏ cây, giống như những cây hạnh biển hay nguyệt quế cay trên những vùng cao. Những nông dân và dân chài vùng Caribê không có mặt ở đó để được người ta yêu mến hay thậm chí để được chụp ảnh; họ là những gốc cây mà mồ hôi và vỏ cây phủ một lớp muối, nhưng ngày ngày trên một hòn đảo nào đó, những cái cây không rễ mặc com lê đang ký kết những hợp đồng thuế ưu đãi với các nhà kinh doanh, đầu độc tận gốc rễ những cây hạnh biển và nguyệt quế cay trên núi. Một buổi sáng nọ, nhà cầm quyền sẽ tự hỏi điều gì đã xảy ra không chỉ với những cánh rừng và vịnh biển mà cả với toàn thể một dân tộc.

Họ lại ở đây, họ lại đến, vẫn những khuôn mặt, những thiên thần nhẹ dạ dễ mua chuộc, những làn da đen mềm mại và những đôi mắt trắng dã ánh lên sự vui thích đáng ngại, giống như những đứa trẻ châu Á làng Fecility trong vở Ramleela; hai tôn giáo khác nhau, hai lục địa khác nhau, cả hai đều tràn ngập cái nỗi đau cũng chính là niềm vui.

Nhưng đâu là niềm vui mà không có nỗi sợ? Nỗi sợ thói ích kỷ mà, tại đây trên bục diễn thuyết này cùng với toàn thế giới đang dõi mắt không phải theo họ mà là theo tôi, tôi muốn giữ nguyên vẹn những niềm vui bình dị này, không phải vì chúng ngây thơ mà bởi chúng có thật. Chúng có thật khi nhờ món quà này Perse nghe thấy những khúc sử thi của chính mình viết về Tiểu Á trong tiếng xào xạc của những cây cọ lá quăn, cái châu Á nội tại của tâm hồn mà thông qua đó trí tưởng tượng tha hồ phiêu bạt, nếu có một cái gì đó như là trí tưởng tượng đối lập với ký ức tập thể về toàn thể dân tộc chúng tôi, thật như niềm hân hoan của những cậu chiến binh nhỏ tuổi bắn vút mũi tên tre qua những ngọn cờ trên bãi đất trống tại Fecility; và giờ đây một niềm vui đầy biết ơn và một nỗi sợ đầy ân phúc như khi một cậu bé mở sách bài tập và bắt gặp, trong phạm vi trang giấy, những khổ thơ đóng khung có thể chứa đựng ánh sáng những ngọn đồi trên một hòn đảo được ban cho sự mông lung ẩn khuất, nâng niu sự nhỏ nhoi vô nghĩa của chúng ta.

  • Nguyễn Bích Vân dịch từ tiếng Anh, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

© Culture Globe

__________________________

Chú thích:

[1] Nguyên văn: Sống sót qua Middle Passage. Middle Passage là thuật ngữ dùng để gọi tuyến hàng hải tam giác xuyên đại dương trong suốt các thế kỷ từ 15 đến 19 đưa người châu Phi sang châu Mỹ làm nô lệ và chở ruợu rum và mía sang châu Âu. Chúng tôi chọn cách chuyển nghĩa cho dễ hiểu.

[2] Ta thường phiên âm là Êgiê.

[3] Nguyên văn: từ thời Middle Passage. Xem chú thích ở trên.

Việt Báo

Nhận xét tin Derek Walcott

Ý kiến bạn đọc

Viết phản hồi

Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Derek Walcott bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Derek Walcott ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Derek Walcott ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tin Văn Hóa của chuyên mục Văn Hóa.

Derek Walcott
Derek Walcott, History, India, Port of Spain, Saint Lucia, Middle Passage, the culture, not the tourists, our city, maybe, language, people, all both, to

the whole scale of a city can not be measured by the traveler or exile, but by the citizens and its architecture. Once we were told that we do not have to be a city ​​or a culture, we need to answer ...



  • Thoi su 24h184 De cu nguoi thay Tuong Ngo
    Thời sự 24h(18/4): Đề cử người thay Tướng Ngọ

    Cả nước hơn 7.000 ca sởi, Hà Nội đang đỉnh dịch; Bộ Công an đề cử người thay Tướng Ngọ; Bầu Kiên: Từ siêu xe đến dép tổ ong ngày ra tòa; Thảm cảnh gia đình vụ nổ mìn kinh hoàng 2 người chết

  • Thoi su trong ngay Ong Gia khai ve bau Kien
    Thời sự trong ngày: Ông Giá khai về bầu Kiên

    Nạn nhân vụ Cát Tường bị rạch bụng sau khi chết?; Hoãn phiên xử bầu Kiên và đồng phạm; Ông Trần Xuân Giá khai gì về bầu Kiên?; Nổ súng xối xả trong nhà nghỉ chấn động Cần Thơ; Tai nạn thảm khốc trên cao tốc, 5 người chết...

  • Thoi su 24h164 Xe cho xang chay giua pho
    Thời sự 24h(16/4): Xe chở xăng cháy giữa phố

    Ông Võ Văn Thưởng nhậm chức Phó bí thư TP.HCM; Hợp long cầu dây văng lớn nhất Việt Nam; Hoang mang số liệu trẻ tử vong do dịch sởi; Hà Nội: Cháy lớn tại khu công nghiệp Vĩnh Tuy

  • Thoi su trong ngay 2 ca si bi cuop giua Sai Gon
    Thời sự trong ngày: 2 ca sĩ bị cướp giữa Sài Gòn

    Bộ Giáo dục xin 34 nghìn tỷ đổi mới chương trình; Dừng xử vụ Cát Tường, trả hồ sơ điều tra bổ sung; Chết tức tưởi sau khi bác sĩ rút 3 lọ tủy sống; Hai ca sỹ bị cướp giữa Sài Gòn...

  • Thoi su tuan qua Ca nha bi cuon vao gam oto
    Thời sự tuần qua: Cả nhà bị cuốn vào gầm ôtô

    Đường Trường Chinh bị nắn cong như thế nào; Nóng trước phiên xử vụ Cát Tường; Kỳ lạ hai xe ô tô chung biển số xanh “san bằng tất cả”; Nữ sinh mang thai ngất ở lớp rồi tử vong; Vì sao không công bố dịch sởi?...

  • Nghin le chuyen tuan qua 134 204 Benh soi lan rong hang tram tre tu vong
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua (13/4 - 20/4): Bệnh sởi lan rộng, hàng trăm trẻ tử vong

    Số trẻ mắc sởi tăng cao, số ca tử vong do sởi và các biến chứng do sởi chưa có dấu hiệu dừng lại khiến người dân hoang mang, còn các cơ sở y tế thì phải gồng mình chống quá tải trong suốt một tuần qua.

  • Tin An ninh Phap luat tuan qua 1304 1904
    Tin An ninh – Pháp luật tuần qua (13/04 – 19/04)

    Hà Tĩnh: dân bắt công an, phá nhà cán bộ; Tòa trả hồ sơ, yêu cầu điều tra lại vụ Cát Tường; Hoãn phiên tòa xét xử \'Bầu Kiên\' và đồng phạm; Xả súng kinh hoàng vào cảnh sát ở Cần Thơ; Dương Chí Dũng có \'cửa\' thoát án tử?; Thiêu sống người tình vì ngoại tình với con trai;..........là những tin đáng chú ý trong tuần.

  • Toan canh Showbiz tuan 134 194
    Toàn cảnh Showbiz tuần (13/4 – 19/4)

    NSND Trịnh Thịnh qua đời, cuộc chia tay gây tiếc nuối của "cặp đôi vàng" Trương Ngọc Ánh - Trần Bảo Sơn, ca sĩ Minh Quân phanh phui sự hào nhoáng giả tạo của showbiz, người mẫu Phương Mai, Nathan Lee bị lên án vì "mạt sát" Huyền Chip, hay HH Trúc Diễm, Bà Tưng, diễn viên Kim Hiền, ca sĩ Lâm Chi Khanh đều liên tiếp bật mí tình yêu với người hâm mộ là những thông tin nổi bật của showbiz Việt trong tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 13 1942014
    Toàn cảnh kinh tế tuần 13 - 19/4/2014

    Kể từ ngày 16/04, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội sẽ bắt đầu xét xử bầu Kiên và những con số trong vụ án này thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận. Ngoài ra, những thông tin xung quanh làn sóng sáp nhập ngân hàng, gói tín dụng 50.000 tỷ đồng... cũng là những sự kiện tài chính nóng hổi được dự luận quan tâm.

  • Tong hop Doi song tuan qua 134 204
    Tổng hợp Đời sống tuần qua (13/4 - 20/4)

    Dịch sởi hoành hành gây ra những nỗi đau xé lòng và nhiều câu chuyện đáng bàn khác; Số phận của những em bé bị đẩy vào nạn tảo hôn; Tâm sự đắng lòng của những người đồng tính; Xót xa những phận gái bị lừa trở thành gái mại dâm; Những cách dạy con hay, mẹo vặt hữu ích cho gia đình; Nhức nhối vấn đề thực phẩm bẩn là những tin tức nổi bật tuần qua...