Bộ phim truyền hình Đàn trời vừa đi hết tập cuối với một kết thúc mang lại cho những khán giả đã chăm chú theo dõi phim suốt 3 tháng sự thỏa mãn, và cũng đủ để họ thấy xót xa, tiếc nuối cho số phận các nhân vật trong phim. Song bộ phim được “chăm chút kỹ càng” (theo như những người thực hiện phim nói) cũng để lại những nuối tiếc khi nó là một tác phẩm chính luận hiếm hoi được sản xuất trong thời buổi truyền hình nhan nhản phim giải trí nhàn nhạt.
Thỏa mãn Theo thông tin từ nhà sản xuất, Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam, thì kịch bản của Đàn trời có một quá trình xây dựng khá dài, 11 năm (4 năm thai nghén của nhà văn Cao Duy Sơn và 7 năm ấp ủ, chuyển thể của nhà văn Phạm Ngọc Tiến) khi nó vốn được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên. Phim được thực hiện bởi đạo diễn Bùi Huy Thuần, người khá “lão luyện” trong dòng phim truyền hình chính luận còn non trẻ với những dấu mốc đã đóng rất nét ở những bộ phim như Cảnh sát hình sự, Chủ tịch tỉnh…; được quay bởi Phạm Quang Minh, người đã quay rất nhiều bộ phim truyền hình được khán giả yêu mến như Dòng sông phẳng lặng, Ma làng, Chủ tịch tỉnh… và phim điện ảnh Bi, đừng sợ!. Mặt khác, vấn đề được đề cập trong phim có sức hút rất lớn, cuộc chiến chống tham nhũng của các nhà báo truyền hình với liên minh “bòn rút” tài sản nhà nước được cấu kết bởi những quan chức đứng đầu tỉnh và các doanh nghiệp tư nhân năng lực ít thủ đoạn nhiều. Bởi vậy, ngay từ những tập đầu tiên, bộ phim đã thu hút được sự chú ý theo dõi của đông đảo khán giả, nhất là người từ lứa tuổi trung niên trở lên.
Đàn trời có một cấu tứ khá chặt chẽ với những nút thắt, mở, ra vào tương đối hợp lý. Nội dung phim không ngại phơi bày những sự thật vốn tồn tại từ lâu trong xã hội chúng ta và tạo ra không ít sự liên tưởng với những vụ việc có thật. Lời thoại của các nhân vật cũng khá “thoáng” và gần gũi đời sống khi hầu như tập nào cũng có nhân vật buông lời văng tục (khá nhẹ nhàng). Đặc biệt phim có bối cảnh được chọn lựa một cách dụng công, dàn trải khá phong phú ở nhiều địa phương thuộc miền núi phía Bắc chứ không bó gọn ở một địa phương cụ thể. Phim được quay khá đẹp với những góc máy “đắt”. Và với 3 tháng quay liên tục cho 36 tập phim (thông thường với thời lượng như thế này, phim giải trí chỉ cần từ 1 đến 1 tháng rưỡi), các nhà làm phim đã tạo ra được một bộ phim đủ để những khán giả quan tâm háo hức chờ đợi từng tập phim sau mỗi buổi phát sóng.
Các tập phim cũng ngay lập tức được YouTube và các mạng chiếu phim online đưa lên mạng ngay sau khi phát sóng trên truyền hình và có số lượng người xem trực tuyến khá cao. Riêng trên YouTube, tính đến nay, tập 1 của phim đã có hơn 26 ngàn lượt xem, so với hơn 25 ngàn lượt xem tập 1 bộ phim cổ trang Hàn Quốc Chốn hậu cung cũng “hot” không kém được chiếu cùng thời điểm trên VTV3 với giờ phát sóng muộn hơn.
Và tiếc nuối Dụng công ở khâu chọn cảnh, dàn dựng bối cảnh, quay phim, cực khổ suốt 3 tháng với sự ghẻ lạnh của các địa phương do chọn đề tài “hiểm”, đó là việc rất đáng được hoan nghênh, nhất là khi Đàn trời đã đóng góp tích cực cho một thể loại đang rất lép vế trong bình diện phim truyền hình hiện nay. Tuy nhiên, ở trước màn ảnh nhỏ, sự dụng công đó chưa lấp đi được những khiếm khuyết mà nếu như kỹ càng và dụng công thêm cho đều ở các mảng việc thì các nhà làm phim đã thành công mỹ mãn còn khán giả cũng không phải lăn tăn.
Bỏ qua những lỗi nhỏ, nhưng khá nghiêm trọng, như việc viết sai năm mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới bức ảnh Người (1970 thay vì 1969) trong phòng làm việc của Bí thư Tỉnh ủy Đào Trọng Bằng (do Dũng Nhi thủ vai) ở tập 26; hoặc việc để cho nhân vật nhà báo Vương (Trung Anh đóng) mặc chiếc áo khoác có chữ US Army (quân đội Mỹ) trong suốt mấy tập cuối…, phim còn những điều đáng tiếc khác.
Đầu tiên là phần âm nhạc. Ngay mở đầu phim, bài hát chủ đề khiến người hiểu biết về âm nhạc và quan tâm đến nhạc phim cảm thấy khó chịu bởi là nhạc của một bộ phim nói về đời sống người dân ở vùng núi phía Bắc Việt Nam nhưng bài hát lại sặc mùi… phim bộ Hong Kong. Thường thì các nhạc sĩ viết nhạc nền cho phim vẫn sáng tác một vài chủ đề chính, gắn liền với từng nhân vật hoặc từng trạng thái điển hình trong phim để tạo nên những nét nhạc quen thuộc khiến khán giả khi xem là có thể nhận ra được, nhất là với các series phim.
Những câu nhạc chủ đề được phối khí bằng các thủ pháp như sử dụng nhạc cụ, thay đổi âm sắc, tốc độ, nhịp độ khác nhau tùy thuộc vào từng trạng thái, hình ảnh, tình cảm của nhân vật… Và phần trung tâm của bài hát chủ đề thường được sử dụng để tạo thành nét nhạc đặc trưng của phim. Nhưng trong Đàn trời, những đoạn nhạc nền khá mờ nhạt, tuyến giai điệu không rõ ràng được xử lý bằng sự lắp ghép của vài âm sắc chồng lên nhau, giống như một nhạc sĩ hay nhạc công ngồi vào đàn dạo ngón nhưng lại được sắp xếp theo một lý trí.
Với những nhạc sĩ chuyên nghiệp thì đó không thể được gọi là sáng tác. Điển hình là đoạn sáo gắn liền với nhân vật Xẩm Ky (diễn viên Hồng Chương đóng), chúng được “thổi” bằng… đàn organ và chẳng ra sắc của vùng cao cũng không ra màu của đồng bằng. Cũng không trách được khi nhạc phim được thực hiện bởi Tiến Minh, một diễn viên có tài nhưng là người nghiệp dư với danh xưng nhạc sĩ, dù anh chuyên trị nhạc phim và nổi lên từ bài hát chủ đề của phim Vệt nắng cuối trời cách đây mấy năm.
Thứ hai, tiếc thay, lại chính là bối cảnh phim. Theo như tâm sự của các nhà làm phim thì họ đã gặp rất nhiều khó khăn với việc sử dụng các bối cảnh do đề tài phim quá nhạy cảm, các địa phương sợ rơi vào tình trạng “bị ám chỉ” nên không hoan nghênh đoàn phim. Mặt khác, chính sức ép từ việc không được ám chỉ bất cứ địa phương cụ thể nào nên những người thực hiện đã phải cố công tìm những nơi không đặc trưng cho nơi nào. Phải chăng vì thế mà không gian văn hóa của nơi xảy ra câu chuyện phim bị rơi vào tình trạng nửa núi nửa đồng bằng. Thoại phim cũng rơi vào tình trạng “đóng giả” khi ngôn ngữ của các nhân vật người miền núi lại chẳng khác gì tiếng nói của người Kinh. Không chỉ thế, các diễn viên đóng vai người miền núi còn cố gắng bắt chước cách nói của người miền núi một cách thiếu đầu tư tìm tòi khiến cho người miền núi thấy buồn cười còn người Kinh thì thấy phản cảm.
Chính “cha ruột” của Đàn trời nhà văn Cao Duy Sơn cũng phàn nàn và thấy khổ tâm về điều này khi xem phim. Không chỉ thế, các nhân vật còn nói quá nhiều trong khi những điều họ nói hoàn toàn có thể chuyển thành các cảnh phim. Rất nhiều nút thắt được mở chỉ bằng những câu thoại kiểu kể lại của các nhân vật. Trong những cảnh nói chuyện điện thoại, hầu như máy chỉ quay một nhân vật và để người này độc thoại, nhắc lại những thông điệp của người ở bên kia đầu dây.
Và cuối cùng, diễn xuất của dàn diễn viên cũng rất đáng bàn. Hầu hết các diễn viên đều là những người gạo cội của làng kịch, làng phim phía Bắc. Đó là một Trung Anh “chết” với những vai khắc khổ, một Tùng Dương không thể thoát ra khỏi hình ảnh đểu cáng, một Kiều Thanh chỉ hợp với dạng nhân vật đa đoan, một Hoàng Dũng với nhiều kiểu vai nhưng không thể rũ bỏ chất kịch…
Trong phim này, ngay khi xuất hiện ở đoạn giới thiệu mở đầu phim, khán giả đã chẳng phải đoán già đoán non gì mà đương nhiên tự hiểu họ sẽ có tính cách, số phận thế nào. Chưa kể, Tùng Dương diễn ngày càng “over” (làm quá) với những cái nhếch mép, hất hàm; diễn viên gạo cội Hồng Chương thì không đưa ra được lối diễn tinh tế hơn khi đóng vai một ông già “tiên tri” thổi sáo ngoài việc chỉ có một vẻ mặt với những câu sấm kiểu mê mê tỉnh tỉnh… Mặc dù họ diễn tròn vai, nhưng chính sự an toàn mà họ mang lại cho đạo diễn đã vô tình làm giảm sự hấp dẫn của phim.
Nói thì thế, nhưng những hạn chế này chẳng riêng ở Đàn trời có, mà phổ biến trong hầu hết phim truyền hình. Cũng xin nhắc lại, dù có những hạn chế, nhưng Đàn trời vẫn xứng đáng được hoan nghênh khi dám đề cập đến vấn đề rất nóng, rất nhạy cảm của xã hội Việt Nam đương đại, nhất là trong hoàn cảnh dòng phim truyền hình chính luận còn khá èo uột.
(Theo TT&VH Cuối tuần)
Viết phản hồi