vietbao

Chương II - Biết bao nhiêu nói bấy nhiêu

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Chuong II Biet bao nhieu noi bay nhieu

11-11-1922, nhằm thứ bảy, lễ đình chiến Pháp, học trò nghỉ học. Tôi xin ra trường và tối lại tôi đi xem hát gánh thầy Năm Tú từ Mỹ-Tho lên diễn tại rạp Modern, 212 đường dEspagne cũ.

Diễn tuồng Kiều, lớp Thanh-Minh tảo mộ gặp Kim-Trọng (xin xem chương trình tôi còn giữ, chép nơi phần phụ-lục, Hồi-ký tập II, trương 410, số 203).

Qua tối thứ bảy 25 tháng 11 cũng năm nầy, gánh thầy Năm Tú lên Sài-Gòn nữa, diễn tiếp lớp “Túy-Kiều kết duyên cùng Bạc-Hạnh” (xem Phụ-lục, tờ chương-trình số 204). Cách ít lâu, gánh thầy Năm Tú lên Sài-Gòn diễn nữa, cũng tại rạp Modern là rạp thuận tiện nhứt ở Đô-thành thuở ấy. Khỏi nói là tôi cũng tìm thế ra xem cho được. Và tôi đã xem khỉa hai đêm tối thứ bảy và chúa nhựt một thứ tuồng “Trang-Châu mộng hồ-điệp” (chương-trình số 205).

31-3/1er-4-1923. Có một đêm không biết 31-3 hay 1-4 năm 1923, có quan khách đến xem chật rạp, và trong số tôi nhìn biết có mặt Cô Ba Trà là hoa-khôi số Một đời đó và một người đàn ông sồn sồn, hỏi ra đó là Sáu Ngọ, vua cờ bạc đương thời. Tôi chỉ là một bạch-diện thơ sanh, đến tháng bảy 1923 mới ra trường, tháng chín mới làm nghề cạo giấy tập sự, nhưng với mười-chín cái xuân, sẵn tiền trong túi, vả lại cha mẹ thì xa, tôi trọn quyền ở xa dòm ngó và thèm thuồng: “Hơn nửa đời HƯ” bắt đầu từ đó. Sở dĩ nay tôi nhắc tên hai người Ba Trà, Sáu Ngọ, là vì, tôi xin nhấn mạnh, cải-lương buổi ấy rất liên quan với nhóm cờ bạc và nhóm chơi bời. Chỉ có nhóm đổ bác có tiền nhiều, ăn chơi như nước chảy và thường cung cấp gián tiếp cho ca-sĩ hai phái. Điếm cờ bạc cho tiền cho gái, cầm như chịu tiền xâu mà lợi hơn vì tuy cũng thua mà vẫn chụp giựt bóc hốt chút nào cũng đã tay, họ ít dám rớ tới cái ấy sợ xúi quảy. Điếm cái không giấy lại dành tiền nuôi “đực”, trước mê hát bội, mê thằng Lữ Bố đẹp trai, nay mê kép cải-lương Tiết Giao, trong tấn tuồng đoạt ngọc tân thời, cô Me Tây, cô Ả tứ thời lén lút thằng Tây thằng chồng bất lực mua vui thầm với trai tân, kép có sắc. Thậm chí, cái với cái, cũng húc nhau được và một đêm nọ trên quán nem Thủ-Đức tôi vẫn gặp “nữ công-tử Sáu Hương” chở đào H. đi ăn nem để lát nữa ca riêng và diễn lại riêng tuồng Nguyên Thành-Tôn giễu với nữ thừa tướng Lịch-Quân-Ngọc (tuồng Mạnh-Lệ-Quân giả trai).

Tư Lung, Chín Tửng, Năm Hy, Tư Mầu, Tư Nhơn, Huyện Đước, Sáu Nhiều, Sáu Ngọ, tôi đều biết mặt, kẻ thì tổ chức xuống ghe lớn đi ăn tôm nghe đờn ngoài sông gió mát, kẻ mời riêng cô X. về nhà, kép trai thì sẵn cô Tư Nhị, cô Sáu Hương, đưa xe đi dạo muồi, tự mình cầm lái, Delage, Hotchkiss... Riêng tôi vì để bụng bị cô ba Trà khi dễ một câu: “bọn thầy thông thầy ký ăn lương bao nhiêu, ai thèm...” sau tôi gặp lại, có dịp cũng không thèm lại, trả đủa!!

Muốn biết rõ cách ăn chơi thuở ấy, không ai biết rành hơn anh Bảy Nhiêu, vì lúc đó anh cũng bị mời, cũng có được mời và tôi xin phép anh Bảy cho tôi trích ra đây bài anh viết trong báo “Buổi Sáng” ngày 1-2-1960 như sau:

Cách đây 48 năm (1922), lúc tôi còn là kép vườn đi hát cho gánh Tập-Ích-Ban ở Thốt-Nốt (Long-Xuyên); nhờ “cóp” được giọng ca Tứ-Đại oán pha xuân của kịch-sĩ tiền-phong Hai Nhiều, đã quá cố vì bịnh lao hồi 1924, kép chánh gánh Tân-Thinh đóng vai quan ba trong vở ca kịch “Bạch-Tuyết kiên trinh” của hai cố soạn-giả Lâm-Hoài-Nghĩa và Nguyễn-Quốc-Biểu, giọng ca đó của anh Ba Lễ dạy cho nhiều kịch-sĩ thuở ấy...

Hồi thuở ấy, ở đâu cũng thích nghe Tứ-đại oán giọng xuân nên kép Hai Giỏi (Mỹ-Tho) được cái tên vang lừng khắp xứ.

Tôi bỏ túi được mớ nhắm nên cũng được nêu cao tên tuổi trong vai Châu-Bá-Hòa trong vở “Châu-Trần phải nghĩa” của cố soạn giả Mộc Quán Nguyễn-Trọng-Quyền (xin lỗi không phải khoe) ca Tứ-đại xuân trong lớp ôm mộ khóc cha nên người ta nêu tên tôi là “Giỏi đơ”, “Giỏi troa” gì gì đó...

Gánh T.T.B. mon men lên Sài-Gòn diễn tại rạp Modern-cinéma ở đường dEspagne (Lê-Thánh-Tôn bây giờ). Sau rồi đêm diễn vở C.T.P.N. tại rạp “Modern” tôi được cậu Tư Lung, cậu Hai Mẫn và vài cậu có vẻ phong-lưu, những tay đổ bác khét tiếng, vô tận hậu-trường rước tôi xuống chiếc đò Sài-Gòn thả lều bều xuống lên ăn nhậu. Đêm đó không nhớ đêm nào, có trăng sáng phản chiếu trên mặt sông Sài-Gòn, thấy nước tung tăng nhiều đợt sóng đưa con đò nhấp nhô lặn hụp... thấy nhức đầu. Rồi tiếng đàn nhị tiếng thập-lục tiếng tiêu rao lên nghe rả rít véo von buồn đáo để! Ạ! Thì ra đây cuộc đi chơi thuyền họ đã tổ chức hẳn hoi để cho tôi thưởng thức giọng ca của anh Ba Lễ.

Đây anh Ba Lễ.

Nếu bạn không biết anh Ba Lễ, mà bạn còn nhớ kịch-sĩ Hai Nhiều (Tân-Thinh) ca giọng xuân Tứ-Đại oán một sáu một mười với Ba Lễ thì lời nhắc nầy không ngoa và cũng không làm sao tôi tả cho đúng những giọng trầm bổng du dương, pha xuân, ai, đảo, oán, lợ, lợ ngắn, lợ vòng cầu, lợ trầm ngân dài có hột một cách tài tình, mà anh đã sáng chế trong các bài oán thuần-túy cổ điển.

Anh không biết đờn một cây nào hết, anh tự cầm song lang và nhịp thật chắc không trật một lái. Tài cái là anh đương ca, anh biết cây đờn nào chinh dây hay ống tiêu sai bực, anh kêu tài tử nói ngay, mà không bỏ qua một chữ ca một nhịp nào cả. Để nhắc vài câu ca “Tứ-đại-oán” bài “chết chồng”... tôi nổi óc!

Than thở than đất rộng trời dày! - giọng thở (uốn ngọt) đến rộng (giọng uốn trầm) đến chữ trời dày (xuống phù và trầm).

2. “Ra vô lụy ứa châu mày”, hai chữ lụy ứa và châu mày bổng rồi trầm, cái điệu ca có “bình trắc” thật tài.

3. “Cảnh diêm đài chàng đà an thân”, câu thứ ba quá tài trong cái giọng nửa xuân nửa đảo thêm hai cái ơ ớ.. ví dụ: Cảnh diêm đài (lợ) ơ ớ chàng đà an thân. Câu thứ ba làm tôi nổi óc, có vài giọng thật là lạ và hay không chỗ nói. Như tôi đã nghe Hai Nhiều ca giọng nầy câu thứ ba kém Ba Lễ xa quá, mặc dầu của Ba Lễ truyền lại cho Hai Nhiều. Đến lớp xang dài, anh ca một câu dựng, nghĩa là dứt ba câu xang dài, một câu anh chuyền hai giọng, thật xuất sắc, thật là một thiên tài. Tư Thạch, Tư Út và Tám Thưa cũng có giọng nầy mà kém rất xa. Đây câu dựng Tứ-đại: “Sống sao thác vậy dẫu rách một manh em cũng còn thờ” (chuyển luôn) sống sao (thêm) ứ ư thác vậy, dẫu rách một manh anh cũng còn thờ”.

Không thể viết được nhiều giọng trong hai câu nầy. Rồi lúc anh hứng, muốn kiểu chơi, cũng câu dựng đó anh lại thêm sống sao ý-a thác vậy, dẫu rách một manh em cũng còn thờ “hờ hơ hơ hơ hớ hờ hơ”. Trong bảy chữ hờ hơ, anh cho bảy giọng chuyền theo cây đờn “khít nút”. Tôi chỉ lắc đầu. Anh đã truyền những giọng ca oán pha xuân, ai, đảo, lợ v.v... trong các dấu sắc, nặng, hỏi, mỗi dấu anh uốn nhiều giọng quá hay, truyền lại cho người thứ nhứt là kịch-sĩ Hai Nhiều, Ba Nam, Chín Phót, sau, Tư Hương, Ba Ky, Tám Cang và Hai Giỏi. Đến sau, Tư Thạch, Tư Út, cho tới Tám Thưa đều lai lần không đúng giọng của Ba Lễ. Như Tư Thạch ca Văn-Thiên-Tường câu: “Nơi ải quan lướt xông tên đạn”... chữ lướt và chữ đạn... lợ của Tư Thạch giống có một phần mười; người kịch-sĩ ca 4 phần 10 theo giọng của Ba Lễ chỉ có Hai Nhiều và Ba Nam.

Đến một bài nhỏ như Lý con sáo, Ba Lễ dạy Tám Cang mà hồi đó Tám Cang lý con sáo không ai lý được giọng đó nhưng anh Ba Lễ bảo rằng: “Tám Cang ca thì đúng giọng mà âm thinh sái hẳn. Anh nói: “Ai đem con sáo sang sông”, Tám Cang lại phát âm ra: “Ái ái đém (cái mà) con sạo sàng sang sông sáng sáng sang sang sồng ai đem con sạo sang sồng!”... không ai ca cho đúng âm thinh của nó vì mỗi người ca đều theo đờn, thành ra trật âm mà sai nghĩa. Anh giải thích: “Từ tứ tài-tử cho tới thập-nhị tài-tử về cổ-điển, nó đã có một căn bản thuần túy vững chắc, không phải muốn ca sao thì ca, như vậy là mất điệu nghệ tài-tử”.

Anh chế ra giọng xuân là anh lấy trong ba bài lớn Nam-xuân, Ai và Đảo-ngũ-cung đệm vô trong bài Tứ-đại-oán là vì anh tùy theo trường hợp, tùy theo những người nghe ca. Vì trong nhạc điệu bài Tứ-đại-oán khó ca nhứt, và cái giọng oán của nó, nếu người sành điệu thì thích ca đúng điệu, chớ nó là bài “buồn ngủ” nhứt.

Anh nói tùy trường hợp là tùy theo người nghe. Cho nên trong bài “Tứ-đại-oán” anh pha các giọng xuân-ai-đảo, trong một vài câu lạ như uốn giọng, giọng lợ, v.v... cho lạ tai cho đỡ ngủ gục, chớ oán là oán, ai là ai, xuân là xuân, v.v... bài nào theo điệu đó không được “pha chè”, làm mất tánh chất thuần túy của cổ-điển thì chưa phải là tài-tử.

Hồi thuở đó mà anh đã có óc nhận thức sân khấu ca kịch rất tế nhị.

Anh nói: “người đào kép nào dám ca hết bài “Tứ-đại-oán” trên sân khấu, thì người đó là “thánh”. Vì thế anh mới truyền cho các kịch-sĩ nói trên những giọng oán pha xuân là kéo khán giả theo dõi với mình lúc đóng trò, đừng làm cho khán giả chán.

Như tôi, đã nghe anh ca nhiều lần nhiều bài về oán, như Tứ-đại, Phụng-hoàng, Phụng-cầu, Văn-Thiên-Tường, v.v... mỗi lần ca mỗi lần khác, có nhiều giọng lạ lùng hay không tả xiết. Lúc nào, nếu anh có tâm sự não nề sầu muộn thì anh ca oán thật oán, một giọng thống thiết bi ai có thể rơi lệ khi nhìn cái nét mặt thiểu não của anh, thật là hồn ca lai láng. Anh có đại tật. Tật ấy như thi-sĩ Lý-Bạch (có rượu thánh mới có thi thần)? Còn anh, có cỏ-nhác, anh ca mới trầm hùng. Càng nhậu nhiều càng ca hay, uống như hũ chìm, lạ cái là uống rượu không biết say.

(trích báo Buổi Sáng, 1-2-1960. Bảy Nhiêu)

II. Từ cái đêm đi chơi thuyền, tôi đã mê anh Ba Lễ, và hát ở đâu hai cậu Lung – Mẫn cũng cho xe rước tôi về ở đó, Ba Lễ xem tôi như đứa em yêu mến, anh thích xem tôi hát, tôi mê anh ca, dần dần trở thành đôi bạn tâm đồng.

Đêm nọ anh đi chơi khuya, trở về với bộ mặt nhừ tương, nhưng không chuếnh-choáng, anh vui cười vồn vã và bảo rằng: “Em nhỏ ơi (gọi tôi), để anh ca ngược và hát Quảng cho em nghe nhé!

Tam tài-tử (thường trực) rao lên và hòa tấu, thì anh cho vô hai ly cối cỏ-nhác; tay cầm song-lang... Nè vô: tam tài-tử khảy lên bài lưu-thủy-trường. Người ta đờn từ câu đầu lưu-thủy, còn anh lại bắt đàng đuôi ca tới! Tôi tưởng bữa nay anh thắm rượu nhiều say lứ lừ nên ca trật! Tới chừng nghe đờn câu dứt lưu-thủy: kìm “liu liu phàn xế phàn liu ho” song lang cũng vừa xuống cái CÓC, thì anh cũng vừa ca dứt câu đầu lưu-thủy!! “Tình mối tình nửa mừng thêm lo”, rất ăn rập với câu đờn dứt lưu-thủy!

Cả nhà cười rộ lên. Anh uống thêm hai ly cối nữa và vui cười la lên: Hát Quảng nè! Đờn vừa vô, anh cũng chụp ngay: (bài hạ)

“Hồi triều Minh, xưa vốn có người Vương ông,

“Sanh đặng có ba con rày út trai nọ Vân, Kiều

“Chị Hai,

“Tiết vẻ vang...

Nếu ở cách xa vừa đủ nghe thì đó là hát Quảng-Đông chớ không phải là bài hạ. Khi dứt bài hạ, anh nói: “Muốn kiểu cọ chơi để giải khuây chớ thuở nào bài ngũ-đối-hạ lại ca giọng Quảng? Trong điệu ca tài-tử phải phân biệt Bắc và Oán đặc biệt ba bài Hạ, Thượng, Xàng-xê hay Long-đăng, Vạn giá, nó có hai giọng: theo tài-tử và lễ nhạc, không đem giọng lưu-thủy, tây-thi qua bên bài hạ được, cũng như Tứ-đại-oán, Phụng-hoàng không đem giọng qua ba bài Nam-xuân, Ai và Đảo-ngũ-cung được.

Anh Lễ nói tiếp: “Khi nào đi ca đám, nếu có nhạc sĩ khác, thì người tài-tử (ca-sĩ) phải có đủ căn bản vững chắc thuần túy cổ điển, nhịp nhàng chắc chắn mới tranh thủ. Bởi nghề đờn, người nhạc-sĩ hay thử những tay ca, ai cũng có “miếng nghề”, miếng nghề đó là hay phá nhau để cho rớt, cho trật đặng ra mặt khinh khỉnh kiêu ngạo mỉa mai, nhiều khi quạu đến... đổ máu. Cho nên người ta hay nói nghề đờn của mình “mắc” lắm!

Hễ đụng độ với tay lạ là lo phá, lo chõi rồi chê khen nhau ẩu tả, không thế dung hòa do đó mà âm thanh sai lạc phải mất chất điệu nghệ về âm nhạc cổ điển.

Có nhiều nhạc-sĩ cũng như ca-sĩ thường hay “sanh chứng” và hay chế thêm, ví dụ một câu đờn 7 chữ, họ lại chêm vô có thể 10 chữ, như ca cũng vậy, riết rồi sai điệu hết.

(trích báo Buổi Sáng 3-2-1960. Bảy Nhiêu)

Ca hát trên sân khấu dễ dàng hơn ca tài-tử. Bởi sân khấu luôn luôn người đờn và người ca phải ăn rập nhau, lỡ ca trật và đờn theo thì không ai rầy rà gì cả. Còn ca tài-tử, cả hai đờn và ca đều rình rập, có thế thủ, xem chừng nhau, nếu bên đờn yếu, thì bên ca phá, bên ca yếu thì bên đờn phá, nhận chìm nhau giữa thập mục sở thị, do đó mà nghề chơi của ta ít ai tôn trọng.

Đêm nào tôi cũng nghe anh Ba Lễ kể chuyện đờn ca, tôi say mê hằng đêm thức suốt sáng.

Anh Ba Lễ, trung người, da ngâm, đôi mắt sáng, miệng có duyên khi anh cất giọng, tánh vui vẻ, nhanh nhẹn, rất bình dân. Thích chơi với bạn nghèo, không kiểu cách, không khoe khoang, không lấy nghề ca để hãnh diện, ít nói mà đến lúc hứng, nói, nói quên cơm nước. Người của anh khiêm tốn, nể bạn hay kiếm những chuyện vui trêu bạn, dễ mến lắm.

Ai hiểu anh, anh chơi hết mình, ai ỷ tiền khinh anh (tụi ca dạo), anh tìm cách lánh xa, không bao giờ lòn cúi những người quăng tiền ra để đổi lấy tiếng ca. Vì vậy người ta đâm ra ghét anh.

(trích báo Buổi Sáng, 3-2-1960. Bảy Nhiêu).

III. Có lần, ở tỉnh S., nhân đám tân hôn của một giáo viên nào đó (quên tên) người ta lên Sài-Gòn tìm hai cậu Lung và Mẫn, cho rước anh Ba Lễ và tam tài-tử (nhạc-sĩ thường trực) xuống đó để ca giúp vui.

Đêm tân hôn đủ mặt quan khách sang trọng, phần nghe có đờn ca do các tay chiếng Sài-Gòn xuống, thiên hạ chen chân giành chỗ đứng như đám hát cúng đình? Anh Ba thấy cách sắp đặt không đàng hoàng, nên cứ ngồi lầm lỳ uống cạn ly nầy tới ly kia, ròng là cỏ-nhác do anh đem theo. Các quan chức thuở đó trong bản thân đã sẵn chất thực phong, họ xem cái nghề xướng ca là “vô loại” cho rằng bọn ca dạo là phường hạ tiện kiếm cơm!

Nhưng người ca-sĩ Ba Lễ không bao giờ hạ thấp nhân cách. Khi họ hàng đông đảo, chễm chệ trên gối dựa chiếu bông, oai nghi trong bộ Âu-phục, hách dịch với điếu xì-gà, với ly rượu Tây, thì cái đám tài-tử nầy phải đờn ca giúp vui cho họ hàng ăn nhậu!

Chủ hôn và vài ông có máu mặt bảo anh Ba Lễ: - Ê! Ba! Ca lên đi em! Người khác ra lịnh: - Mấy người tài-tử hãy lựa bài nào cho xuất sắc nhé!

Lớp trong vừa nhậu vừa ăn vừa Thuyết-Đường, Tam-Quốc, tuông ra ồ ạt, lớp ngoài thiên hạ chen lấn giành chỗ đứng gây om sòm, anh Ba Lễ cứ thản nhiên nhậu để nghe họ cãi nhau...

- Ủa! Nãy giờ chưa có câu nào? Ca lên đi chớ!

- Ca cho ai nghe? Anh Ba Lễ nói. Đờn thì có Bá-Nha sẵn đây, mà Tử-Kỳ là ai đâu chớ?

- Tại sao thầy nói câu đó?

- Vì chưa phải giờ ca!

- Tới chừng nào?

- Chừng nào không còn nghe tiếng người làm ồn ào, mới có thể ca lên để thưởng thức!

- Ở đây không cần, đám cưới mà!!! Ca cho vui cho rậm đám mà!!!

Anh Ba Lễ đáp: “Vâng! Nếu ông bảo ở đây không cần thì quí ông rước chúng tôi tới đây cũng vô ích. Tôi xin phép nói rằng người ca là để cho người biết thưởng thức lắng nghe, do đó tôi mới nói Bá-Nha đờn phải có Tử-Kỳ nghe, nhờ vậy mà tiếng đờn mới xuất thần, giọng ca mới xuất hồn... Quí ông lại bảo rằng: đám cưới cần ca, mà tài-tử không thể làm cho rậm đám được. Vả lại hồi nào tới giờ, chúng tôi chưa từng đi ca để cho rậm đám! Nếu quí ông muốn cho rậm đám để hòa với những sự nhộn nhịp ồn ào thì chỉ có hát Sơn-Đông, có trống, có phèng la, có khỉ múa mới là rậm đám! Quí ông không cần, chúng tôi cũng xin từ biệt...

Nói dứt lời, Ba Lễ và ba nhạc-sĩ mang đờn ra xe nhà chạy thẳng về Sài-Gòn.

Vang bóng một thời rồi chìm trong quên lãng

Cách hai năm sau (1924), tôi đi khắp Sài-Gòn/Chợ-Lớn tìm anh Ba Lễ, nhưng không ai rõ biết anh phiêu bạt phương trời nào!

Tôi cố gắng tìm những bạn tri-kỷ của anh mới hay anh Ba Lễ lâm chứng bịnh đau gan đã từ giã cõi đời tại Chợ-Lớn.

Lúc anh chết, các anh em mạnh ai nấy lo cái sống trong lúc thất thời đến không ai biết rõ mộ của người ca-sĩ tài danh đó ở vùng đất nào?

Mãi cho đến bây giờ cái tên Ba Lễ đã chìm theo quên lảng.

Giọng ca của anh Ba Lễ chỉ còn lưu lại một phần mười cho Tư Thạch, Tư Út, Ba Nam và Tám Thưa thôi. Bốn danh ca nầy, tuy không được giống như kịch-sĩ Hai Nhiều, Ba Lễ, nhưng dư âm và điệu nghệ hãy còn man mác trong tâm hồn. Đến nay họ đã nắm tay nhau đi về cõi hư vô cực lạc.

Nhắc anh Ba Lễ, lòng tôi cảm xúc mến thương. Nhớ đến năm bạn danh ca tài sắc lòng tôi se lại não nùng.

Năm nay, nhân ngày tân niên, tôi chạnh lòng hoài cảm, nhớ anh Ba Lễ, nhớ giọng ca độc nhứt vô nhị của thời xuân TT!

Than ôi! Một danh ca tài tuấn vang bóng một thời không còn ai nhắc nhở, không lưu lại hương vị trầm hùng, không còn giọng oanh vàng cho người ca-sĩ nào kế nghiệp.

Năm nấm mộ của các bạn nghệ-sĩ hãy còn phơi sương ấp nắng. Còn nấm mồ của anh Ba Lễ ai có biết ở vùng cô tịch nào... nếu còn, chắc cũng đã phẳng lù hà lãng!

Nhớ đến bạn xưa, một phút mặc niệm, một nén hương lòng! Người tri-kỷ ơi! hãy chứng cho!

Kịch-sĩ Bảy Nhiêu

(trích báo Buổi Sáng 5-2-1960. Bảy Nhiêu)

(Cả ba bài kể trên, để nhan là “Năm mới nhắc người bạn cũ: Anh BA LỄ, một danh ca độc nhứt vô nhị. Ký ức của kịch-sĩ Bảy Nhiêu, viết để kính viếng hương hồn anh Ba Lễ và để tặng các bạn nghệ-sĩ danh ca đương thời và tương lai. Nay tôi xin phép ông bạn Bảy Nhiêu đăng vào tập nầy, trường cửu hơn trên báo.)

Bảy Nhiêu, ông bầu Nguyễn-Ngọc-Cương và tôi

Con người duyên dáng, tác giả bài “Nhớ Ba Lễ” dí dỏm trên đây, quen với tôi từ tuổi thanh-xuân, và nay tôi càng thêm mến vì có cái giọng văn rặt nòi miền Nam như tôi. Anh đã tự khai trong một bài báo khác đề ngày 31-5-1961 đăng trong LẼ SỐNG, rằng:

+ năm 1918, anh đã leo trường trốn học, thả lang bang theo gánh Đ... vì mê một cô đào gọi “Cô Ba lưu lạc”, kế gia đình hay tin, lên bắt anh đem vô trường cho học lại (với tài-liệu nầy, chúng ta biết thêm năm 1918 đã có hát cải-lương của gánh Đ... nào đây rồi. Như vậy cải-lương ra đời trước 1918 ?)

+ năm 1919, nặng nợ với đờn hơn với chữ, anh lại bỏ học một phen nữa để bỏ chữ nghĩa thánh-hiền theo nghiệp Tổ.

+ năm 1920, anh lập gia đình, nhưng bụng vẫn còn mê đờn, mê “Cô Ba lưu lạc”. Anh nói: đó là tuồng xã-hội của gánh Đ. (gánh Đ. nào tôi chưa bàn ra).

+ năm 1921 anh lại bỏ gia đình, gởi vợ con lại nhà, để đầu quân gánh T. (Tôi định T... đây là Tập-Ích-Ban, Thốt-Nốt, Long-Xuyên phải vậy không?)

Từ 1921 (ngày 18-10-1921) (ông bạn nhớ rất giỏi), anh ra sân khấu vì say mê nghiệp Tổ chớ chưa biết hát, chỉ ham hát cho to tiếng, giọng có hột, để... “o mèo” (anh rất thật tình, vì tôi biết lúc nhỏ, đi đến tỉnh nào anh cũng có để thương để nhớ nơi tỉnh đó, trong khi anh vẫn còn là con chim giỏi hót giỏi bay và bay chưa mỏi cánh...)

Bốn năm liên tiếp anh theo nghề hát, nhưng chưa nắm được bí-quyết của nghề, tự anh nhìn nhận hát hay, hay dở không biết (anh nói khiêm chăng?), “chỉ biết thuở ấy rán ca lòi bảng họng mà không một ai biết vỗ tay khen giùm.” Trong bốn năm ấy anh vì sống chung với anh em đoàn hát, anh vướng nhiều tật xấu và đã biết làm nhơn tình với chị ả Phù Dung. Anh được tấn phong “kép nhứt” và vì đẹp trai, đã “làm em nuôi”, anh viết “làm con” rất nhiều “má”. (Tôi khen anh rất thành thật và dùng chữ rất sát nghĩa. Như tôi nói “em nuôi”, anh nói thẳng “làm con” của “má” và thêm câu: Trong đó (chuyện má, con) có nhiều chuyện xấu xa bỉ ổi kể sao cho xiết).

Bốn năm vui say mà không tiến. Nghề đứng một chỗ, trác táng phí sức khỏe thì nhiều. Cuối năm 1924, anh hồi tiền cho chủ gánh T... Anh thối lại 2.000 đồng một số bạc rất lớn (1) (Câu nầy cho ta thấy một khía cạnh của cải-lương lớp trước không có cho lãnh tiền trước, không có tiền ký contrat, v.v... vì theo lời anh thuật, 2.000 đồng đây anh lấy, anh mượn thêm để xài hằng tháng...)

Trả tiền cho chủ gánh, tuy chưa đã thèm nhưng đã thấy chán, anh quay về gia đình và người nghệ-sĩ lang bạt “qui thuận” vợ con gia đình để được nuôi và ăn bám. (sic)

Hai tháng sau, đầu năm 1925, anh gia nhập gánh P. (tôi định là Phước-Cương?) và nơi đây anh ký giao kèo được 5.000 đồng (lãnh trước để trừ lần hồi chớ cũng chưa phải lãnh dứt như hiện tại). Lương mỗi tháng 150 đồng, cao hơn ở gánh T. bội nhị và làm “xếp” các anh em (chef de troupe). (sic) Để tiện so sánh, tôi xin nói, nếu anh đi đường thẳng học đến bằng thành-chung, anh ra làm giáo viên, bất quá 80 đồng, (có bằng

brevet élémentaire) anh ra làm thơ ký, giỏi lắm 65 đồng mỗi tháng (có bằng diplôme) mà hai hạng nầy đâu có đắt mèo như kép cải-lương đẹp trai như anh thuở ấy!! Tôi đã mạn phép anh, lượt thuật thay anh bước đường trôi nổi của anh qua những bài anh viết cho báo Lẽ Sống trong tuần tháng 6 năm 1961. Tôi lượt bỏ những đoạn anh bị hâm chém hâm cho ăn thẹo như sau buổi diễn tuồng “Gỡ ách Tô-Châu” nơi xứ sở của anh là chợ Long-Xuyên. Tôi muốn để qua tập Hồi-ký về hát bội sẽ nói đến ông Nguyễn-Ngọc-Cương, bầu gánh Đại-Phước-Cương, nhưng biết cuốn nầy có ra đời chăng? Tiện đây nói phứt: Cương mất cuối năm 1945 và gánh hát Phước-Cương, theo lời anh bạn Sáu Xường (em của Cương), ra đời năm 1925 và khi đó tập tuồng ở đường Lefebvre cũ (nay Nguyễn-Công-Trứ). Xường thì làm chủ gánh cải-lương Phước-Tường, khai trương đầu tiên tại rạp Thành-Xương năm 1928 do các đào kép bên Tân-Thinh qua (Chín Phót, Ba Ngưu, Sáu Chầu, v.v...)

Theo anh Sáu Xường, tôi rõ lại, gánh Tân-Thinh lúc trước tập tuồng ở đường Boresse, tục danh đường Bồ-Rệt là đường có nhà đèn đỏ, gái ăn sương nhiều nhứt, Ba Tàu cỡ sáu giờ chiều đi ngang qua là bị kéo cờ vô ngay, chỉ ba cắc bạc thôi! Boresse nay là đường bác-sĩ Yersin.

Nhắc cô Năm Phỉ, Bảy Nhiêu và Bầu Cương, là nhắc đoạn đường của cải-lương mà ba người nầy có công hoạch định buổi đầu. Ba nhơn vật nầy có công với ngành cải-lương rất lớn. Trong ba người, duy anh Bảy là còn, và hiện bán quán cà-phe dưới mái đình Phú-Hòa đường Trần-Quang-Khải, sau khi ăn cơm Lục-tỉnh, dạo khắp Bắc-Trung-Nam qua đến Pháp-quốc. Người nghệ-sĩ lão thành nầy như con chim mỏi cánh về nghỉ nơi mái đình nầy. Chúc anh mạnh giỏi lâu dài.

VƯƠNG HỒNG SỂN

Việt Báo
Người đàn ông chọc dao đổ chất lạ vào mít, xem ngay để tránh nha mọi người
Comment :Chương II - Biết bao nhiêu nói bấy nhiêu
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Chương II - Biết bao nhiêu nói bấy nhiêu bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Chuong II Biet bao nhieu noi bay nhieu ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Chương II - Biết bao nhiêu nói bấy nhiêu ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
Chapter II - How many say this much
Three Masses, Seven Many, Two Many, Yugoslavia, August Cang, Chapter II, Armistice ceremony, the British singer, no one, how much, people , not known, single, say
11-11-1922, to Saturday, French Armistice ceremony, students leave school. I would back out at school and I went to see him sing burden from the U.S. In-Tho Tu Seen in Modern Cinema, 212 old dEspagne way. Overseas theater, classes meet Thanh-Minh Kim-weight ancestral graves (see ...
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h298 Cau be 11 tuoi tu tu vi ko co quan ao moi
    Thời sự 24h(29/8): Cậu bé 11 tuổi tự tử vì ko có quần áo mới

    Có một đứa trẻ 11 tuổi vừa tự tử, thưa ông Giời; Kỳ lạ thùng niêm phong tôm tiêm tạp chất, trở thành "sạch" sau 1 đêm; Bàng hoàng thanh niên tay cầm điện thoại, chết ngồi bên đường; Bệnh nhân nhiễm HIV giật kéo đe dọa bác sĩ; Quảng Nam: Loa phát thanh xã nhiễu sóng tiếng Trung Quốc

  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Thoi su 24h248 Chat xac nguoi tinh bo bao tai o Sai Gon
    Thời sự 24h(24/8): Chặt xác người tình bỏ bao tải ở Sài Gòn

    Cứu một cụ bà trong đám cháy, thiếu úy CSGT nhập viện cùng nạn nhân; Cắt điện, nước của quán cà phê Xin Chào là sai quy định; Nhiều phi công xác nhận bị chiếu đèn laser khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất; Sập hầm vàng ở Lào Cai: công bố danh tính 7 công nhân bị chết; Ẩn tình vụ vợ U60 thuê người đánh sảy thai cô giúp việc 19 tuổi

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t