Thứ bảy, 21 Tháng mười 2006, 07:14 GMT+7

Chương 4: Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á

Chuong 4 Trien vong ve cong dong kinh te Dong A

Trong mấy năm gần đây, tại vùng Đông Á, những chuyển động xung quanh vấn đề Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement, FTA) trở nên nhộn nhịp. Tại sao như vậy? FTA sẽ tác động như thế nào đến kinh tế và ngoại thương ở khu vực này?

Trong quá trình hình thành các FTA, cộng đồng Đông Á sẽ được triển khai như thế nào?

Mục đích của chương này là trả lời các câu hỏi trên và đặc biệt làm rõ vị trí của ASEAN trong trào lưu xây dựng những khu vực tự do thương mại tại vùng Đông Á, đồng thời đặc biệt bàn đến vị trí và chiến lược cần có của Việt Nam trước trào lưu chung này.

4.1. Tiến triển của các FTA song phương và đa phương tại Đông Á

Từ đầu thập niên 1990, song song với xu thế toàn cầu hoá (globalization), chủ nghĩa khu vực (regionalism) cũng phát triển mạnh. Trước đây, hình thái cụ thể của chủ nghĩa khu vực là khu vực thương mại tự do (free trade area) nhưng từ thập niên 1990, hình thái phổ biến là FTA, song phương hoặc đa phương. FTA có phạm vi hợp tác rộng, không giới hạn trong việc thực hiện thương mại tự do mà còn xúc tiến tự do hoá đầu tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, hiệu suất hoá thủ tục hải quan và nhiều dịch vụ khác.

Tính đến thời điểm ngày 1-5-2004, FTA trên thế giới đã lên đến con số 107, trong đó có đến 66 hiệp định được ký kết từ sau năm 1995. Theo tính toán của JETRO sau khi loại trừ những FTA đã ký giữa những thành viên của EU. . Ngược lại với trào lưu chung này, tại Đông Á, chủ nghĩa khu vực phát triển chậm. Cho đến nay mới chỉ có vài hiệp định đã được ký kết. Có một số lý do giải thích tình hình này. Một là, do chiến tranh lạnh kéo dài, do sự khác biệt về thể chế kinh tế và do những vấn đề lịch sử để lại, các nước có nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc không tích cực tìm kiếm một định chế hợp tác. Hai là, do chính sách ngoại giao kinh tế của Nhật Bản có truyền thống nhấn mạnh quan hệ đa phương trên quy mô toàn cầu thông qua các định chế quốc tế như GATT (Hiệp định chung về thuế quan và thương mại) trước đây và WTO (Tổ chức Thương mại thế giới) hiện nay.

Trong vài chục năm qua, dù không có những định chế thỏa thuận giữa các nước trong vùng song các nền kinh tế tại Đông Á vừa phát triển nhanh vừa ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động thương mại và đầu tư. Như đã thấy ở Chương 2, trong mấy chục năm qua, công nghiệp hoá tiến hành rất nhanh tại khu vực này, phản ảnh trong tỷ lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu. Bảng 4.1 cũng cho thấy các nước ở vùng này ngày càng cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới. Thị phần của các nước trong vùng trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của thế giới tăng gấp đôi, từ 18% năm 1980 đến 39% năm 2002. Đặc biệt NIEs, ASEAN và Trung Quốc đều tăng thị phần đáng kể. Trong giai đoạn này, thị phần của Nhật giảm vì đã tăng nhanh trong thời gian trước đó (từ 4,2% năm 1955 tăng lên 10% năm 1975). Xem Trần Văn Thọ (1997). . Bảng 4.2 trình bày ma trận thương mại của ASEAN và các nước lớn trong vùng Đông Á. Từ thông tin trong Bảng 4.2 ta có thể thấy dễ dàng rằng các nước Đông Á đã tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước nội vùng với tốc độ cao hơn nhiều so với xuất khẩu sang toàn thế giới. Chẳng hạn, từ năm 1992 đến 2002, tổng xuất khẩu của vùng Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lần trong khi xuất trong nội vùng tăng 2,6 lần. Riêng Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng 4,4 lần nhưng sang các nước trong vùng Đông Á tăng 7 lần. Con số tương tự của ASEAN là 2,7 lần và 3,2 lần. Phân tích ở Chương 2 cũng đã cho thấy khuynh hướng tập trung thương mại trong nội bộ vùng Đông Á.

Như vậy, cho đến nay, dù không có một định chế hợp tác, song kinh tế Đông Á trên thực tế đã được kết hợp thành một khối (de facto integration) và sự kết hợp này được thực hiện qua cơ chế thị trường (market-led integration).

Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, các nước Đông Á kể cả Nhật Bản đã tích cực trong việc xây dựng một định chế hợp tác khu vực vì hai lý do. Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tiền tệ ở châu Á cho thấy cần có một định chế hợp tác khu vực để ngăn ngừa những bất ổn tương tự. Thứ hai, song song với sự bế tắc trong các vòng đàm phán do WTO chủ truơng, chủ nghĩa khu vực đã phát triển mạnh tại nhiều nơi khác trên thế giới và thúc đẩy các nước Đông Á chuyển hướng theo trào lưu chung này.

Không kể AFTA (Khu vực thương mại tự do ASEAN), thành lập năm 1992, tại Đông Á, FTA mới được bắt đầu bàn đến từ năm 1999 bằng sự kiện Nhật Bản và Hàn Quốc thoả thuận cùng nghiên cứu khả năng và hiệu quả của một FTA giữa hai nước. Hiện nay, hai nước vẫn chưa đi đến một sự thoả thuận cụ thể nhưng sự kiện này đã châm ngòi cho những thảo luận, những đề án về FTA rất sôi nổi tại Đông Á. Theo đó, Nhật Bản và Xingapo bắt đầu thảo luận từ tháng 11-1999 và đã ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế (Japan - Singapo Economic Partnership Agreement, JSEPA) vào tháng 1-2002. Hiệp định này không giới hạn ở tự do thương mại mà còn nhắm đến việc đẩy mạnh đơn giản hoá, thông thoáng hoá các thủ tục giao dịch, và cùng xúc tiến hợp tác với các nước đang phát triển. Tự do thương mại cũng không giới hạn trong hàng hoá hữu hình mà còn trong các lĩnh vực dịch vụ như đầu tư, di chuyển lao động, v.v..11. Do phạm vi hợp tác khá rộng này, nên hiệp định này không gọi là FTA mà là Hiệp định hợp tác kinh tế (EPA) Nhật - Xingapo. Ngoài FTA và EPA, còn một khái niệm nữa là RTA (Regional Trading Agreement). RTA có phạm vi nhỏ hơn EPA nhưng tác động lại sâu hơn vì có đặc tính của một đồng minh về thuế quan (custom union), nghĩa là các bên ký kết hiệp định đó có cùng một chính sách thuế quan đối với các nước bên ngoài hiệp định.

Cũng vào thời điểm Nhật Bản và Xingapo ký kết JSEPA, Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đề xướng xây dựng Quan hệ đối tác toàn diện Nhật Bản ASEAN (Japan-ASEAN Comprehensive Economic Partnership) và tháng 11-2002; lãnh đạo 10 nước ASEAN đã đồng ý sẽ bàn thảo về đề án này. Đặc biệt, Nhật Bản tỏ ra tích cực sau khi Trung Quốc đưa ra đề án lập FTA với 10 nước ASEAN vào tháng 11-2001. Cuối cùng Nhật Bản và ASEAN đã thoả thuận bắt đầu thương lượng vào tháng 5-2005 và, vào tháng 9-2004 hai bên đã cam kết sẽ đi đến một thoả thuận sau hai năm đàm phán. Tuy nhiên, cam kết này không được ghi vào bản thông báo chung của hội nghị cấp cao Nhật Bản - ASEAN tại Viêngchăn tháng 11-2004, cho thấy trước mắt hai bên khó có thể đi đến một thoả thuận. Theo báo Asahi ngày 1-12-2004, trong nội bộ Chính phủ Nhật Bản có người phản đối việc định ra một mốc thời gian nhất định cho việc ký kết hiệp định Nhật - ASEAN vì sợ Nhật phải sớm chịu những nhượng bộ liên quan đến nông phẩm nhập khẩu từ ASEAN. .

Quan hệ giữa Hàn Quốc và ASEAN đã có một sự tiến triển cụ thể. Tại Viêngchăn (tháng 11-2004), lãnh đạo hai bên đã thỏa thuận sẽ bắt đầu thương lượng trong năm 2005 để trong năm 2006 có thể ký kết FTA. Cũng theo kết quả của hội nghị ở Viêngchăn, hai bên sẽ cố gắng để đến năm 2009 xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan cho ít nhất 80% mặt hàng. Tại đây, Hàn Quốc (cùng với Nga. đã ký tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á, đồng thời đẩy mạnh hợp tác kinh tế với ASEAN. Cụ thể là Hàn Quốc sẽ tăng Quỹ hỗ trợ những dự án Hàn Quốc - ASEAN từ 1 triệu lên 3 triệu USD, và sẽ xuất thêm 5 triệu USD để đẩy mạnh những nỗ lực nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển trong khối ASEAN.

Về FTA song phương, tiến triển khá nhanh và cụ thể là quan hệ Nhật Bản-Philíppin. Tại Viêngchăn ngày 29-11-2004, lãnh đạo hai nước đã đồng ý sẽ ký kết một hiệp định liên minh kinh tế mà FTA là nội dung chính. Ngoài việc giảm thuế quan hàng công nghiệp và nông lâm thuỷ sản, hiệp định còn bao gồm những điều khoản về mở rộng thị trường lao động. Hai bên sẽ chuẩn bị để ký kết và thực hiện hiệp định trong năm 2006. Khi hiệp định có hiệu lực, Nhật Bản sẽ bãi bỏ ngay hàng rào quan thuế cho tất cả các loại hàng công nghiệp, trừ hai mặt hàng da và giày, đồng thời lập tức bãi bỏ hàng rào quan thuế đối với hàng dệt may, những linh kiện bộ phận cao cấp trong xe hơi và đồ điện gia dụng. Philíppin cũng giảm thuế nhập khẩu xuống 0% trước năm 2010 đối với xe hơi và trong vòng 10 năm đối với sản phẩm điện, điện tử. Khác với hàng công nghiệp, Nhật Bản thận trọng hơn trong việc tự do hoá những mặt hàng liên quan đến nông lâm thuỷ sản. Nhật Bản sẽ bỏ quan thuế trong vòng 5 năm đối với cá hồi nhập khẩu và 10 năm đối với chuối nhập từ Philíppin, nhưng những mặt hàng khác thì sẽ định sau, có lẽ với một thời khoá biểu chặt chẽ và một thời gian tự do hoá lâu dài hơn.

Ngoài Philíppin, hiện nay Nhật Bản đang thương lượng với Thái Lan, Malaixia và Inđônêxia để hướng đến việc ký kết FTA song phương trong tương lai gần11. Vào ngày 1-9-2005, Thủ tướng hai nước Nhật Bản và Thái Lan đã thoả thuận các điều khoản cơ bản để giữa năm 2006 có thể ký kết một hiệp định hợp tác kinh tế mà FTA là trọng tâm. Theo thoả thuận này, cho đến năm 2011, Thái Lan sẽ bãi bỏ thuế nhập khẩu linh kiện, bộ phận xe hơi từ Nhật (hiện nay là từ 15 đến hơn 30%), bãi bỏ thuế nhập thép trong vòng 10 năm, thuế nhập xe hơi nguyên chiếc cũng giảm từng bước. Phía Nhật tức thời bãi bỏ thuế nhập tôm, trái cây nhiệt đới, trong vòng 5 năm giảm thuế thịt gà gia công từ 6% xuống 3%, nới rộng thời gian cư trú của đầu bếp người Thái; hợp tác kỹ thuật giúp phát triển ngành xe hơi và ngành thép của Thái, v.v... Hàn Quốc và Xingapo cũng đã bắt đầu quá trình thương lượng.

Tại Đông Bắc Á, triển vọng về việc hình thành một FTA song phương Nhật Bản với Trung Quốc hoặc Nhật Bản - Hàn Quốc, hay Trung Quốc - Hàn Quốc có lẽ còn khá xa. Ngoài bối cảnh phức tạp về lịch sử, gần đây những tranh chấp về lãnh thổ cũng làm quan hệ giữa các nước phức tạp thêm. Trung Quốc bất bình với việc Thủ tướng Koizumi đi lễ bái ở đền Yasukuni (nơi thờ cúng cả những tội nhân gây chiến tranh trong Chiến tranh thế giới thứ hai) nên sự giao lưu cấp nguyên thủ quốc gia bị ngưng lại từ nhiều năm nay. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản gần đây lại có vụ tranh chấp về chủ quyền của hòn đảo Takeshima. Chỉ thuần về kinh tế, vấn đề FTA giữa Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đang gặp khó khăn: Hàn Quốc lo ngại hàng công nghiệp của Nhật Bản sẽ tràn vào và nhập siêu của nước này sẽ tăng nhanh, ngược lại Nhật Bản lo là hàng nông phẩm của Hàn Quốc sẽ ảnh hưởng đến nông dân của họ.

Trong tình hình đó, FTA đa phương tại Đông Bắc Á càng không có tính khả thi. Tuy lãnh đạo Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đã ra tuyên ngôn chung sau buổi họp thượng đỉnh tháng 10-2003 tại Bali là sẽ hướng tới việc lập FTA gồm ba nước Đông Bắc Á này nhưng cho đến nay không thấy có tiến triển gì thêm.

Trong khi đó, nỗ lực hướng tới một cộng đồng Đông Á gồm ASEAN và ba nước Đông Bắc Á thì có tiến triển cụ thể hơn. Tại Viêngchăn vào tháng 11-2004, các nước này đã quyết định cuối năm 2005 sẽ họp hội nghị thượng đỉnh đầu tiên, với tính chất là hội nghị toàn vùng Đông Á, tại Cuala Lămpơ. Cho đến nay, hằng năm đã có nhiều hội nghị thượng đỉnh của 10 nước ASEAN và ba nước Đông Bắc Á nhưng tất cả đều do ASEAN mời trong khuôn khổ ngoại giao của khối này. Hội nghị ở Cuala Lămpơ sắp tới do đó có tầm quan trọng đặc biệt và được dư luận châu Á và thế giới chú ý.

Nhìn chung, những tiến triển về FTA tại Đông Á cho đến nay có đặc điểm là xoay quanh các nước ASEAN. Đặc biệt, Nhật Bản và Trung Quốc đã tranh nhau đưa ra đề án FTA song phương giữa ASEAN với mình, do đó tại vùng này đang từng bước hình thành các thể chế ASEAN+1.

Riêng về ASEAN, từ nửa sau thập kỷ 1990, khối này đã trực diện nhiều vấn đề mới: ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ châu Á, sự xuất hiện mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc, và sự gia tăng nhiều thành viên mới. Các vấn đề này đã mở ra một cục diện mới đối với ASEAN. Khủng hoảng tiền tệ đã cho thấy hạn chế của tổ chức ASEAN trong việc gìn giữ sự ổn định kinh tế trong khu vực và gây ra những khó khăn nhất định đối với nền kinh tế các nước này. Cuộc khủng hoảng tiền tệ cũng đã làm lịch trình thực hiện AFTA của các nước thành viên bị chậm lại. Sự xuất hiện của Trung Quốc đã khiến cho sức cạnh tranh của các nước ASEAN tại những thị trường chính như Mỹ, Nhật Bản bị yếu đi và nhất là làm cho dòng chảy đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chuyển hướng. Về chi tiết, xem lại Chương 3. .

Những tác động trên đã làm cho khoảng cách về sức cạnh tranh và mức độ mở cửa thị trường giữa các thành viên trong khối ASEAN ngày càng lớn. Điển hình là giữa Xingapo với các nước khác. So với các thành viên khác, Xingapo vừa là một nền kinh tế mở vừa ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ nên đã không bằng lòng với tiến độ thực hiện AFTA sau khi có khủng hoảng tài chính tại châu Á và đã tích cực ký kết hiệp định tự do thương mại song phương với các nước ngoài khu vực. Các nước thành viên khác của ASEAN lo lắng về hiệu quả chuyển hoán thương mại (trade diversion effect). Đây là hiệu quả xảy ra đối với nước C khi hai nước A và B thành lập khu thương mại tự do mà C không phải là thành viên. Xuất khẩu của C sang A và B bị giảm vì thuế quan của A và B đối với hàng nhập từ C vẫn như cũ trong khi giũa A và B không còn thuế. tại những nước ký kết FTA với Xingapo nên đã có những hành động tương tự đối với những đối tác trong FTA của Xingapo nhằm ngăn ngừa hiệu quả đó. Đặc biệt, Thái Lan đẩy mạnh việc triển khai FTA với Nhật Bản và các nước khác. Philíppin, Malaixia và Inđônêxia cũng tỏ ra tích cực. Trong bối cảnh đó, ta có thể hiểu được ngay tại sao Philíppin và Thái Lan đã có thái độ tích cực đáp lại đề nghị của Trung Quốc, chấp nhận việc sớm tự do hoá thương mại đối với những mặt hàng nông sản trước khi mục tiêu chung cho các sản phẩm khác sẽ được thực hiện vào năm 2010 đối với các thành viên cũ và năm 2015 đối với các thành viên mới của ASEAN (xem Chương 6).

Do đó, nhìn chung, “vẫn nói chuyện hợp tác khu vực nhưng lại hành động song phương với các nước ngoài khu vực” (talking regional, acting bilateral), một cách nói khá phổ biến gần đây tại các nước ASEAN, đã trở thành đặc trưng của các nước ASEAN từ những năm cuối thập kỷ 1990.

Những FTA song phương có phạm vi hợp tác rộng nên có thể kỳ vọng là nó sẽ thúc đẩy một cách trực tiếp, nhanh chóng những hiệu quả động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển hiệu suất hơn. Hơn nữa, việc ký kết những hiệp định thương mại song phương mới như với Trung Quốc hay Nhật Bản sẽ có tác dụng nâng cao sự hợp tác trong khu vực Đông Á, và góp phần thúc đẩy quá trình hình thành thể chế ASEAN+3 trong tương lai. Từ cách phân tích này, ta thấy xu hướng mở rộng hợp tác song phương giữa các thành viên ASEAN với các nước ngoài tổ chức hoặc giữa toàn khối ASEAN với các nước là đáng khẳng định.

4.2. Bàn về khả năng thiết lập cộng đồng Đông Á trong tương lai

Kinh tế các nước khu vực Đông Á ngày càng phụ thuộc lẫn nhau qua đầu tư và thương mại. Độ phụ thuộc vào thương mại trong nội bộ của khu vực Đông Á (tỷ lệ kim ngạch thương mại nội bộ trong tổng thương mại của khu vực này đối với thế giới) tăng từ 33,6% năm 1980 lên 51,2% năm 2002. Xét tình hình xuất khẩu của từng nước, ma trận mậu dịch (Bảng 4.2) đã đề cập trong phần trước cũng cho thấy khuynh hướng đó. Như vậy, cho đến nay, dù không có một cơ chế hợp tác chặt chẽ, song kinh tế các nước ở vùng này cũng đã gắn bó mật thiết với nhau qua cơ chế thị trường.

Đồng thời với khuynh hướng đó, như đã phân tích ở các phần trước, trào lưu gần đây cho thấy nhiều nỗ lực nhắm tới việc hình thành các cơ chế hợp tác khu vực mà FTA là trọng tâm. Xoay quanh những nỗ lực này trong liên quan đến khả năng hình thành một cộng đồng Đông Á, ta thấy có hai vấn đề cần được chú ý:

Thứ nhất, trong dài hạn, để thực hiện cộng đồng Đông Á, những bước phát triển (process) sắp tới nên được triển khai như thế nào? Theo ý kiến của tác giả, phương án khả thi phải là từng bước một bắt đầu từ hai mũi: mũi xuất phát từ ASEAN và mũi xuất phát từ một trong ba nước lớn ở Đông Bắc Á (Nhật Bản - Hàn Quốc, Trung Quốc - Hàn Quốc, Nhật Bản - Trung Quốc rồi đến Nhật Bản - Trung Quốc - Hàn Quốc). Hai mũi này sẽ gặp nhau, kết hợp lại để tạo ra một cộng đồng kinh tế chung ở khu vực này. Mũi ASEAN tiến hành với từng nước ở Đông Bắc Á (tức ASEAN+1). Hiện nay FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đã được ký kết. Trong tương lai gần, ASEAN với Nhật Bản, sau đó là ASEAN với Hàn Quốc cũng sẽ có những hợp tác tương tự. Mũi ASEAN xem như không có vấn đề gì lớn. Nhưng mũi thứ hai có lẽ không đơn giản vì như đã nói, bối cảnh lịch sử, chính trị đang làm trở ngại, chí ít là làm chậm trễ, quá trình thiết lập những cơ chế hợp tác kinh tế. Có lẽ ít nhất là trong trung hạn (5 - 6 năm tới) sẽ không thấy được những tiến triển cụ thể về mũi xuất phát từ Đông Bắc Á.

Thứ hai, trong quá trình hướng tới cộng đồng Đông Á, một vấn đề nữa là làm sao để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước và giảm những tác động quá mạnh do sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc. Tuy mục tiêu của việc hình thành một cộng đồng là tạo điều kiện hợp tác để cùng phát triển song các nước còn ở trình độ phát triển thấp phải nhanh chóng hội đủ các tiền đề mới tham gia có hiệu quả vào khuôn khổ hợp tác đó. Như sẽ phân tích ở Chương 6, chương trình tự do hoá thương mại trong khuôn khổ FTA giữa ASEAN và Trung Quốc đặc biệt gây tác động đối với các thành viên mới của ASEAN. Sự trỗi dậy quá nhanh của kinh tế Trung Quốc cũng gây một số khó khăn nhất định cho quá trình tái cơ cấu công nghiệp của cả các thành viên ASEAN cũ như Thái Lan, Philíppin. Do đó, vai trò của Nhật Bản, một nước công nghiệp tiên tiến có nền kinh tế lớn nhất khu vực, được xem là rất quan trọng. Việc chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý, kinh doanh và hợp tác tri thức từ Nhật Bản sẽ giúp các nước ASEAN tăng khả năng cạnh tranh, đối phó có hiệu quả đối với các thách thức do FTA mang lại và do sự trỗi dậy quá nhanh của kinh tế Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, chính sách tích cực của Nhật Bản gần đây đối với ASEAN là rất đáng chú ý. Đỉnh cao của chính sách này là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN vào hai ngày 11 và 12-12-2003 tại Tôkyô. Gọi là “đặc biệt” vì đây là lần đầu tiên một hội nghị như vậy được tổ chức tại một nước không phải là thành viên ASEAN. Bối cảnh mới của kinh tế - chính trị châu Á mà nổi bật là sự lớn mạnh của Trung Quốc đã thúc đẩy quan hệ đặc biệt giữa Nhật Bản với ASEAN.

Hai ngày của hội nghị thượng đỉnh được kết thúc bằng Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động cho giai đoạn trung và dài hạn sắp tới. Theo Tuyên ngôn Tôkyô, Nhật Bản và các nước ASEAN quyết tâm tiếp tục mở rộng, đẩy mạnh hợp tác trên tinh thần đối tác chiến lược (strategic partnership). Nhật Bản sẽ đặt ưu tiên cao cho nỗ lực giúp các nước ASEAN phát triển và hội nhập (integration) với nhau hơn nữa. Với phương châm đó, Nhật sẽ ưu tiên cấp tiền viện trợ và vốn vay ưu đãi (ODA) cho ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân tài, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, và giúp phát triển các nước thuộc lưu vực sông Mêkông để rút ngắn khoảng cách giữa hai nhóm nước (sáu nước thành viên cũ và bốn nước thành viên mới) trong khối này. Mặt khác, Nhật Bản - ASEAN sẽ tăng cường sự liên kết kinh tế về mọi mặt. Cho đến năm 2012, hai bên sẽ cụ thể hoá ý tưởng này bằng việc ký Hiệp định liên kết kinh tế toàn diện Nhật Bản ASEAN (JACEP) mà Thủ tướng Koizumi Junichiro đề xướng tại Xingapo tháng 1-2002. Sự liên kết này có phạm vi rộng, từ trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đến hợp tác đầu tư, tài chính, tiền tệ, công nghệ thông tin, năng lượng, v.v.. Trên quan hệ đặc biệt này, Nhật Bản và ASEAN sẽ hợp tác trong các vấn đề của khu vực và thế giới.

Một số nội dung cụ thể trong Kế hoạch hành động là quyết định lấy năm 2005 làm thời điểm bắt đầu thương lượng để tiến tới việc ký kết Hiệp định JACEP. Nhật Bản cũng đã cam kết trong năm năm tới sẽ đưa một vạn sinh viên và thực tập sinh ASEAN sang Nhật Bản học hoặc tu nghiệp, trong ba năm tới sẽ chi ra 1,5 tỷ USD để giúp ASEAN đào tạo nhân tài và 1,5 tỷ USD để giúp phát triển khu vực sông Mêkông. Nhật cũng sẽ giúp tăng cường cơ sở hạ tầng và đào tạo nhân tài để phát triển công nghệ thông tin, xe hơi điện tử… tại ASEAN và xúc tiến FDI từ Nhật Bản sang các nước này.

Đặc điểm của Tuyên ngôn Tôkyô và Kế hoạch hành động là sự cam kết cao độ của Nhật Bản trong việc giúp các nước ASEAN hơn nữa. Đây là chiến lược của Nhật Bản nhằm tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc tại vùng Đông Nam Á. Mặt khác, Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này cũng cho thấy ASEAN muốn tận dụng khả năng của Nhật để tăng cường năng lực cạnh tranh trước sức mạnh áp đảo của kinh tế Trung Quốc.

Quan hệ Nhật Bản - ASEAN được đẩy mạnh lên một bước từ năm 1977 khi Thủ tướng Nhật Bản đương thời Fukuda công du năm nước thành viên ban đầu và phát biểu chính sách đặc biệt dùng ODA để vừa giúp từng nước thành viên vừa xây những ngành công nghiệp chung cho toàn khối. Quan hệ này lại phát triển một bước lớn khi các công ty Nhật Bản ào ạt sang đầu tư trực tiếp (FDI) tại Thái Lan, Malaixia, Xingapo và Inđônêxia sau khi đồng yên tăng giá đột ngột vào cuối năm 1985. ODA và FDI của Nhật Bản đã tạo ra một sự gắn bó mật thiết giữa Nhật Bản với ASEAN trong mấy thập kỷ qua, một quan hệ mà Tuyên ngôn Tôkyô ghi nhận là một đối tác đồng hành đồng tiến.

Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1990, quan hệ Nhật Bản - ASEAN đối mặt với một tình huống mới: kinh tế Nhật Bản suy thoái triền miên, ngân sách dành cho ODA phải bị cắt giảm, chính phủ thay đổi luôn nên lãnh đạo có khuynh hướng hướng nội, ít ai quan tâm tăng cường quan hệ với những vùng không có vấn đề gì nổi cộm. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, Nhật tích cực hành động qua sáng kiến Miyazawa (30 tỷ USD) và cung cấp vốn vay đặc biệt (650 tỷ yên) cho các nước ASEAN (và Hàn Quốc) nhưng những cố gắng có tính chất tình thế này chỉ giúp các nước châu Á hồi phục sau khủng hoảng chứ không giúp ASEAN đối kháng lại với một trào lưu mới, đó là sự xuất hiện của Trung Quốc với một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ đã thu hút FDI nước ngoài, nhất là của Nhật Bản, và làm giảm bớt thị phần của ASEAN trên thị trường thế giới (Xem lại Chương 3).

Trong lúc ASEAN lo ngại trước áp lực này thì Trung Quốc triển khai chiến lược mới: đưa đề án ký hiệp định thương mại tự do (FTA) với ASEAN vào cuối năm 2001. Nội dung của đề án khá cụ thể và rất hấp dẫn đối với ASEAN nên đã được dư luận thế giới chú ý và nhất là ASEAN đã tích cực hưởng ứng. Chính sự kiện này đã làm cho Nhật thấy cần phải quay lại chiến lược ASEAN để vừa duy trì ảnh hưởng tại vùng này, vừa giữ thế chủ động trong quá trình hình thành cộng đồng kinh tế Đông Á (thể chế ASEAN+3) trong tương lai. Đây là bối cảnh ra đời của Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Nhật Bản - ASEAN.

Vùng Đông Á hiện nay đang từng bước hình thành thế ba chân vạc: Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN, trong đó hiện nay ASEAN là yếu nhất nhưng trước mắt đang có lợi điểm là cả Trung Quốc và Nhật đều muốn tranh thủ. ASEAN có thể tận dụng thời cơ này để phát triển nhanh. Đặc biệt trước khi thực hiện FTA với Trung Quốc (năm 2010 đối với 6 nước thành viên cũ và 2015 đối với các nước thành viên mới), ASEAN cần tận dụng kết quả Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt vừa qua để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế các nước thành viên.

Khi bàn về cộng đồng Đông Á, nhiều người có khuynh hướng kỳ vọng quá mức vào khả năng hình thành tổ chức đó. Nhưng từ mấy điểm nêu trên, ta thấy rằng, ngay ở vấn đề tự do hoá thương mại không thôi, con đường đi lên cũng chưa suôn sẻ, nên khả năng hình thành một đồng tiền chung, một chính sách tài chính, tiền tệ chung hay chính sách ngoại thương chung đối với các khu vực khác càng trở nên khó khăn. Cũng phải mất ít nhất vài chục năm nữa mới có thể có những tiến triển cụ thể về những vấn đề này. Có thể nói những vấn đề đó là giấc mơ chung của người Đông Á và có thể mong muốn giấc mơ đó sẽ trở thành hiện thực vào một thời điểm khá xa trong tương lai.

Trong vòng 10 năm tới, tự do hoá thương mại trong khuôn khổ FTA và các nỗ lực hợp tác để các nước còn ở trong giai đoạn phát triển thấp có thể rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước là những lĩnh vực có tính khả thi cao. Nội dung của quá trình thực hiện cộng đồng Đông Á trước mắt có lẽ sẽ dựa trên ba lĩnh vực mà Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) nhằm tới, đó là tự do hoá thương mại (trade liberalization), thuận lợi hoá hoạt động thương mại (facilitation), và hợp tác kinh tế kỹ thuật (eco-tech) đối với những nước còn ở trình độ phát triển thấp.

Kết luận

Vùng Đông Á đang chuyển động về cả hai mặt: một là hoạt động giao thương, đầu tư nhộn nhịp làm cho các nước ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau; hai là các cơ chế hợp tác mà trọng tâm là FTA cũng đang hình thành. Trong tình hình đó, nhiều người kỳ vọng một cộng đồng kinh tế sẽ ra đời tại Đông Á trong tương lai. Tuy nhiên, trong 10 năm trước mắt, tự do thương mại và các kênh hợp tác kinh tế như chuyển giao công nghệ, thuận lợi hoá thương mại vẫn sẽ là những nội dung chủ đạo của quá trình hợp tác Đông Á. Những nội dung khác như thiết lập đồng tiền chung châu Á, xây dựng chính sách tiền tệ - tài chính chung, v.v.. là những vấn đề của một tương lai xa hơn.

Chủ nghĩa khu vực triển khai theo chiều hướng nói trên sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào? Có thể nói đây là cơ hội giao thương lớn nhất đối với Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới. Nhìn từng quốc gia riêng biệt thì Mỹ là thị trường lớn nhất với số dân 285 triệu người và GDP gần 9.500 tỷ USD. Mỹ cũng đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ năm 2003. Tuy nhiên, Đông Á là thị trường đáng kể và nhất là phát triển nhanh hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới. Trước hết, Nhật Bản là thị trường lớn thứ hai trên thế giới với số dân 126 triệu người và GDP gần 5.000 tỷ USD. Thị trường Trung Quốc (số dân: 1,3 tỷ, GDP: 1.080 tỷ USD) và ASEAN (dân số 548 triệu, GDP 650 tỷ USD) còn tương đối nhỏ nhưng phát triển với tốc độ cao sẽ trở thành thị trường đáng kể trong tương lai. Đặc biệt, sự gần gũi về địa lý và văn hoá cùng các cơ chế hợp tác được thúc đẩy trong khuôn khổ FTA sẽ đẩy mạnh phân công quốc tế giữa các nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy FTA tại Đông Á có khuynh hướng làm tăng tốc độ phát triển kinh tế của các nước trong khu vực, và những nước hiện có nền kinh tế càng nhỏ thì càng có lợi hơn trong thể chế hợp tác FTA.

Cơ hội mà FTA mang lại cho Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội đó, Việt Nam phải nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh. Hiện nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc hoặc giữa Việt Nam với các thành viên cũ của ASEAN là quan hệ Bắc - Nam trong đó Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu và các sản phẩm sơ chế, trong khi nhập khẩu chủ yếu là hàng công nghiệp. Việt Nam phải nhanh chóng tăng sức cạnh tranh để đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp sang Trung Quốc và ASEAN, tạo nên một cơ cấu thương mại hàng ngang với các nước láng giềng, mới tận dụng được hiệu quả mà FTA mang lại (xem thêm các Chương 3, 5 và 6).

TRẦN VĂN THỌ

Việt Báo

Nhận xét tin Chương 4: Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á

Ý kiến bạn đọc

Viết phản hồi

Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Chương 4: Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Chuong 4 Trien vong ve cong dong kinh te Dong A ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Chương 4: Triển vọng về cộng đồng kinh tế Đông Á ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề Tác Phẩm của chuyên mục Văn Hóa.

Chapter 4: Perspectives on East Asian economic community
Japan, China, Korea, Vietnam, North East Asia, Thailand, the free trade agreements, trade liberalization, export Industrial exports, economic community, the East Asian community, economic cooperation, Member States, the economy, the members of ASEAN

In recent years, in East Asia, the transfer work around the issue of free trade agreements (Free Trade Agreement, FTA) became crowded. Why so? FTA will impact how the economy and foreign trade in this area?.





  • Nghin le chuyen tuan qua 137 197
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua (13/7 - 19/7)

    TQ rời giàn khoan HD-981 ra khỏi khu vực Hoàng Sa; Bão Rammasun đổ bộ Việt Nam, bão quét từ Quảng Ninh tới các tỉnh biên giới; Vỡ đường ống dẫn nước Sông Đà lần thứ 9...là những tin tức thời sự nổi bật trong tuần qua (13/7 - 19/7).

  • Ban tin suc khoe tuan tu 13197
    Bản tin sức khỏe tuần (từ 13-19/7)

    Vì sao người dân phải mòn mỏi đợi vaccine dịch vụ?; Cảnh giác với chiêu giả nhân viên y tế đến nhà lừa tiền; Mực ống bày bán trên vỉa hè ướp hóa chất lạ; Ngáp ngủ nhiều giúp tăng trí nhớ; Quan hệ trong bao lâu để cả hai đều thỏa mãn?; Mẹ bầu ăn nhạt sinh con thần đồng... là những tin sức khỏe nổi bật tuần qua.

  • Toan canh Showbiz tuan 1307 1907
    Toàn cảnh Showbiz tuần (13/07 – 19/07)

    Thí sinh "Nữ hoàng sắc đẹp Việt Nam 2014" ném danh hiệu vào xe rác, Baggio thừa nhận từng lén lút qua lại với Andrea khi đã kết hôn, Tiễn đưa nhà văn Tô Hoài về nơi an nghỉ cuối cùng, Cường đôla tung ảnh hạnh phúc, Lý Nhã Kỳ phát âm tiếng Anh sai, Phạm Băng Băng từng bị băng huyết vì phá thai ở nhà,...là những thông tin nổi bật của showbiz trong tuần qua.

  • Tin An ninh Phap luat tuan qua 1307 1907
    Tin An ninh – Pháp luật tuần qua (13/07 – 19/07)

    Tổng cục Cảnh sát kiểm tra tin đồn Lê Văn Luyện trốn trại; Vụ Cát Tường: 'Tôi có niềm tin lần này sẽ tìm thấy xác con'; Vợ cùng "phi công trẻ" lập mưu giết chồng; Những cuộc 'xóa số' tàn bạo của giang hồ đất Cảng; Hàng nghìn người xem xử tội phạm hiếp dâm hàng loạt; Người tâm thần phạm tội: Những vụ án kinh hoàng; ........là những tin đáng chú ý trong tuần.

  • Toan canh kinh te tuan 1307 1907
    Toàn cảnh kinh tế tuần (13/07 - 19/07)

    Sau sự tăng giá bất ngờ của xăng, giá thực phẩm leo thang chóng mặt, WB dự báo kinh tế Việt nam tăng trưởng 5.4%, lợi nhuận ngành ngân hàng được công bố không có mấy điểm sáng, lãi suất được dự báo tiếp tục giảm... là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật trong tuần vừa qua.