vietbao

Chủ nghĩa thực dụng và ngành sư phạm

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Chu nghia thuc dung va nganh su pham

Trong những năm 1890, Dewey dần dần chuyển từ chủ nghĩa lý tưởng tuyệt đối sang chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa tự nhiên của học thuyết hoàn thiện của mình.

Dựa trên môn tâm lý học chức năng chịu ảnh hưởng bởi thuyết tiến hoá sinh học của Darwin và tư tưởng của một người theo chủ nghĩa thực dụng cùng thời là William James, Dewey bắt đầu phát triển một lý thuyết về tri thức thách thức thuyết nhị nguyên của ý thức và thế giới, về tư duy và hành động, và về những lý thuyết cơ bản của triết học phương Tây từ thế kỷ XVII.

Ông lý luận rằng, tư duy không phải là một loạt những ấn tượng của tri giác hay một “đồ tạo tác” từ cái gọi là “ý thức”, cũng không phải là biểu hiện của Trí tuệ Tuyệt đối, mà đúng hơn là một phương tiện trung gian được phát triển nhằm phục vụ lợi ích của sự sống còn và lợi ích của con người.

Lý thuyết về tri thức này nhấn mạnh “sự cần thiết phải dùng hành động để thử nghiệm ý nghĩ để biến ý tưởng thành tri thức”, và Dewey công nhận rằng, chính lý thuyết về tri thức cũng không nằm ngoài phạm vi của chính lý thuyết đó. Hoạt động của Dewey trong lĩnh vực giáo dục, một phần, nhằm khảo sát những hệ quả sâu xa của thuyết giáo dục học chức năng của ông và để kiểm nghiệm nó bằng thực nghiệm.

Dewey tin chắc rằng, rất nhiều vấn đề mà thực tiễn giáo dục đương thời vướng phải, phát sinh từ bản chất nhận thức nhị nguyên luận sai lầm của những thực tiễn đó. Ông công kích nhận thức luận này trong những bài viết về tâm lý học và lôgíc học vào những năm 1890, và bắt đầu xây dựng ngành sư phạm dựa trên thuyết giáo dục học chức năng của chính mình. Sau khi dành nhiều thời gian quan sát sự trưởng thành của chính những đứa con của ông, Dewey tin chắc rằng, giữa những động lực của quá trình thực nghiệm ở trẻ em hay người lớn không hề có sự khác biệt. Cả hai đối tượng này đều là những cá thể tích cực học hỏi bằng cách đương đầu với những tình huống rắc rối nảy sinh trong những hoạt động của mình. Đối với cả trẻ em và người lớn, tư duy là một phương tiện nhằm giải quyết những vấn đề trong thực nghiệm, và tri thức được tích lũy thông qua chính quá trình giải quyết những vấn đề đó. Đáng tiếc là cho tới thời điểm ấy, những ý tưởng sâu xa của thuyết chức năng này không có nhiều ảnh hưởng đến ngành sư phạm, và vì thế đã không được quan tâm trong trường học.

Dewey cho rằng, khi tới trường học, trẻ em không phải là những tờ giấy trắng để giáo viên có thể ghi lên đó những bài học về văn minh. Cho đến thời điểm một đứa trẻ đi học, nó “đã hết sức nhanh nhẹn, và nhiệm vụ của giáo dục là nắm bắt những hoạt động của trẻ và định hướng những hoạt động đó”. Khi trẻ em bắt đầu tới trường, chúng đem theo mình bốn “nhu cầu bẩm sinh” cơ bản - “nhu cầu giao tiếp, nhu cầu xây dựng, nhu cầu tìm tòi và nhu cầu biểu lộ theo những hình thức tinh tế hơn”. Đây là những “nguồn tài nguyên tự nhiên, nguồn vốn chưa được đầu tư, khi đưa vào sử dụng sẽ phụ thuộc vào sự trưởng thành tích cực của trẻ”. Trẻ em cũng mang đến trường những mối quan tâm và những sinh hoạt trong gia đình, và nhiệm vụ của giáo viên là phải tận dụng được “nguyên liệu thô” này, bằng cách hướng các hoạt động trong trường học của chúng đến những “kết quả có giá trị”.

Lập luận này đã khiến Dewey trở nên mâu thuẫn đối với cả những người ủng hộ phương pháp giáo dục truyền thống “lấy nội dung giảng dạy làm trung tâm”, lẫn những nhà cải cách lãng mạn tán thành phương thức giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”. Những người theo chủ nghĩa truyền thống, đứng đầu là William Torrey Harris - Uỷ viên Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ, đề cao tính kỷ luật, và sự hướng dẫn theo trình tự trong việc bồi đắp tri thức sẵn có. Quan điểm truyền thống cho rằng, kết quả cũng như phương pháp giáo dục đều phụ thuộc vào nội dung môn học. Trẻ đơn giản chỉ có việc “tiếp thu và thừa nhận”. Việc giáo dục trẻ được coi là hoàn thành khi trẻ trở nên dễ sai khiến và dễ uốn nắn”. Tuy nhiên, những người ủng hộ tư tưởng giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” như G. Stanley Hall ( ) và các thành viên nổi bật của Hiệp hội Herbart Quốc gia lý luận rằng, phương pháp hướng dẫn theo chủ đề phải tuân theo sự phát triển tự nhiên, không bị gò ép của trẻ. Theo họ, biểu hiện của những thôi thúc bản năng của đứa trẻ là “điểm khởi đầu, điểm trọng tâm và điểm kết thúc”. Hai trường phái tư tưởng giáo dục này đã tham gia vào một cuộc xung đột gay gắt về triết học vào những năm 1890. Những người theo chủ nghĩa truyền thống bảo vệ những kiến thức, mà nhân loại đã tạo dựng nên qua hàng thế kỷ đấu tranh trên mặt trận tri thức, và nhìn nhận giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm như sự đầu hàng vô tổ chức của quyền lực người lớn. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa lãng mạn lại đề cao tính tự phát và sự biến đổi, và buộc tội những người đối lập là đàn áp tính cá nhân của trẻ bằng một phương pháp giáo dục tẻ nhạt, cứng nhắc và áp đặt.

Dewey đã quyết tâm phản bác và nói rằng, cuộc tranh chấp này chỉ có thể được giải quyết nếu cả hai bên “từ bỏ định kiến cho rằng, có sự khác biệt nào đó về chất (chứ không phải về lượng) giữa quá trình thực nghiệm của trẻ và những môn học đa dạng cấu thành chương trình học. Về phía trẻ, vấn đề là làm sao nắm bắt được quá trình thực nghiệm của trẻ đã chứa sẵn trong đó những yếu tố - những thực tế và chân lý – chính là các yếu tố cấu thành chương trình học theo hệ thống; và điều quan trọng hơn là phương thức, mà các yếu tố như thái độ, động lực và hứng thú của trẻ được kết hợp và phát huy trong quá trình thực hành. Chính những yếu tố đó có vai trò trong việc phát triển và tổ chức chủ đề môn học trong phạm trù thực hành đó. Xét về việc học, cần coi đó là sản phẩm tự nhiên của những tác nhân vận động xuyên suốt quãng đời của người học, và cần phát hiện những giai đoạn xen giữa quá trình từ thực nghiệm hiện tại đến sự trưởng thành của trẻ sau này.”

Người ta thường biết nhiều đến những phê phán của Dewey đối với những người theo lối giáo dục truyền thống vì sự thất bại của họ trong việc gắn kết chương trình học với những hứng thú và hoạt động của trẻ em. Tuy nhiên, ít ai nhận thấy rằng, Dewey còn công kích những người theo chủ trương giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm do họ không gắn kết được những hứng thú và hoạt động của trẻ với chương trình học. Một số những phê bình đối với thuyết giáo dục của Dewey đã nhầm lẫn quan điểm của ông với quan điểm của những người theo chủ nghĩa lãng mạn, trong khi thuyết giáo dục học của Dewey có những khác biệt rõ rệt so với học thuyết này. Theo Dewey, chủ nghĩa lãng mạn nguy hiểm ở chỗ nó cho rằng, “chính năng lực và ý thích tức thời của đứa trẻ là có tầm quan trọng lớn”. Tuy nhiên, nếu như điều này tương đương với việc coi giáo dục chỉ là quá trình vun đắp những mục đích và ý thích sơ khai của đứa trẻ, thì quả là sai lầm.

Để việc giáo dục có hiệu quả, những mục tiêu hứng thú này cần phải được giáo viên sử dụng để hướng dẫn đứa trẻ tìm hiểu khoa học, lịch sử và nghệ thuật. “Trên thực tế, hứng thú chính là thái độ đối với những thực nghiệm có thể xảy ra; chúng không phải là thành quả; giá trị của chúng nằm ở ảnh hưởng chúng tạo ra, chứ không phải ở thành quả chúng thể hiện”. Chương trình học dựa trên những trải nghiệm của con người và vì thế, được tạo ra để khuyến khích trẻ thử nghiệm trong các hoạt động của mình.

Học thuyết giáo dục của Dewey yêu cầu giáo viên thực hiện một nhiệm vụ vô cùng khó khăn là “đưa chủ đề của chương trình học vào kinh nghiệm thực tế”. Như mọi tri thức của loài người, chủ đề này là sản phẩm của những nỗ lực của con người trong việc giải quyết những vần đề phải đối mặt trong thực tế. Tuy nhiên, khi coi chủ đề đó như một chủ thể tri thức chuẩn mực, cần phải được tách ra và trừu tượng hoá từ những tình huống phức tạp phát sinh ra nó. Những người theo đường lối giáo dục truyền thống lý luận rằng, có thể áp đặt tri thức này đơn giản bằng một loạt các bước liên tiếp dựa trên logic của chủ thể đã được trừu tượng hoá này. Tuy nhiên, cách trình bày này ít gây cho trẻ hứng thú đối với chủ đề. Hơn thế nữa, nó còn không cho phép trẻ tự mình khám phá tri thức thông qua những hoạt động đòi hỏi trẻ phải vận dụng một kiến thức nào đó. Theo mô hình này, trẻ được chỉ cho cách làm một việc gì đó hơn là được tự do trực tiếp khám phá cách làm việc đó. Hậu quả là giáo viên phải dựa vào những điều khác như nỗi sợ hãi trước sự đau đớn hay xúc phạm, và mệnh lệnh để truyền đạt kiến thức. Thay vì áp đặt kiến thức cho trẻ theo cách này (hay đơn giản là để cho chúng tự xoay xở lấy theo như lời khuyên của những người theo chủ nghĩa lãng mạn), ông kêu gọi giáo viên “tâm lý hoá” chương trình học bằng cách tạo ra một môi trường, trong đó những hoạt động của trẻ có thể chứa đựng cả những tình huống khó giải quyết. Để có thể giải quyết những vấn đề này, trẻ phải vận dụng đến kiến thức và kỹ năng về khoa học, lịch sử và nghệ thuật. Trên thực tế, chương trình học chỉ cho giáo viên “đâu là khả năng, đâu là sự hoàn thiện trong chân lý, trong cái đẹp và trong cách cư xử mở ra cho những đứa trẻ này. Tiếp đó, cần đảm bảo những điều kiện sao cho chính những hoạt động riêng của trẻ cũng dần dần tiến theo hướng nêu trên cho tới cực điểm.”

Dewey công nhận rằng, để giáo viên có thể dạy theo phương pháp này, để chi phối sự phát triển của trẻ một cách gián tiếp, trước tiên họ phải là những người có kỹ năng chuyên môn cao, hiểu biết thấu đáo chủ đề họ giảng dạy, được đào tạo về tâm lý học trẻ em, và khéo léo trong kỹ thuật đưa ra những tác nhân kích thích cần thiết để chủ đề giảng dạy trở thành một phần trong sự trải nghiệm ngày càng mở rộng của trẻ. Một người thầy như vậy phải có khả năng nhìn nhận thế giới theo cách nhìn của cả trẻ em lẫn người lớn. “Giống như cô bé Alice, người thầy ấy phải bước cùng những học trò nhỏ của mình về phía sau tấm gương soi, và qua lăng kính tưởng tượng này, nhìn mọi thứ bằng con mắt của trẻ thơ, giới hạn bởi kinh nghiệm ít ỏi của trẻ; nhưng đồng thời, khi cần thiết, người thầy cũng phải có khả năng lấy lại tầm nhìn của một người có kinh nghiệm sống, và dưới góc nhìn thực tế của một người lớn, cung cấp những trụ cột kiến thức và kỹ năng để dẫn đường cho trẻ.” Dewey thừa nhận rằng, hầu hết các giáo viên không có được kiến thức và kỹ năng cần thiết để dạy học theo phương pháp này, nhưng ông tin chắc rằng, họ có thể học để làm được điều này.

Chu nghia thuc dung va nganh su pham
Việt Báo
Người đàn ông chọc dao đổ chất lạ vào mít, xem ngay để tránh nha mọi người
Comment :Chủ nghĩa thực dụng và ngành sư phạm
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Chủ nghĩa thực dụng và ngành sư phạm bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Chu nghia thuc dung va nganh su pham ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Chủ nghĩa thực dụng và ngành sư phạm ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
​​Pragmatism and industry pedagogical
pragmatism, advocates of, Romanticism, is not, maturity, psychological problems, people, activities, knowledge, children, teachers, programs, Dewey, job
In 1890, Dewey gradually changing from absolute idealism to pragmatism and fundamentalist nature of his doctrine of perfection. .
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h308 Con dam chet cha duong truoc nha tro
    Thời sự 24h(30/8): Con đâm chết cha dượng trước nhà trọ

    Lùi thời hạn bồi thường thiệt hại sự cố môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung; Người đàn bà thuê người chặt tay, chân hối hận trong nước mắt; 7 tấn thuốc bảo vệ thực vật lậu từ Trung Quốc: Việt Nam hứng độc; Nghi vấn rơi thang máy chung cư ở Hà Nội, 1 người mắc kẹt; Lào Cai lần đầu thừa nhận số nạn nhân vụ sập hầm vàng đã tăng lên 11

  • Thoi su 24h298 Cau be 11 tuoi tu tu vi ko co quan ao moi
    Thời sự 24h(29/8): Cậu bé 11 tuổi tự tử vì ko có quần áo mới

    Có một đứa trẻ 11 tuổi vừa tự tử, thưa ông Giời; Kỳ lạ thùng niêm phong tôm tiêm tạp chất, trở thành "sạch" sau 1 đêm; Bàng hoàng thanh niên tay cầm điện thoại, chết ngồi bên đường; Bệnh nhân nhiễm HIV giật kéo đe dọa bác sĩ; Quảng Nam: Loa phát thanh xã nhiễu sóng tiếng Trung Quốc

  • Thoi su 24h258 Hanh ha con roi chup hinh gui cho vo
    Thời sự 24h(25/8): Hành hạ con rồi chụp hình gửi cho vợ

    Đi tìm lời giải cho cây chuối lạ cao 15 cm ra 6 bắp ở Huế; Những vụ tự sát thương mình và người thân để trục lợi bảo hiểm nổi tiếng; Quan Formosa xin rút kinh nghiệm, người Việt hào phóng bao dung; Hà Nội: Một tuần xử lý gần 200 ‘ma men’, người vi phạm bất ngờ; Xử phạt nồng độ cồn, nhân viên quán bia "mật báo" cho khách

  • Nhung thong tin dang doc nhat trong tuan tu 2182782016
    Những thông tin đáng đọc nhất trong tuần (từ 21/8-27/8/2016)

    Vụ rơi máy bay quân sự làm một học viên phi công tử vong, tự thuê người chặt chân, tay mình để trục lợi bảo hiểm, đau đáu lòng ngư dân miền Trung câu hỏi bao giờ cá biển ăn được, hay vụ sập mỏ vàng ở Lào Cai đoạt mạng 7 người,... là những tin nóng được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 2108 27082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (21/08 - 27/08/2016)

    Tiền ở một loạt các ngân hàng lại "bốc hơi", vấn nạn thực phẩm bẩn bủa vây người Việt, áp lực thu ngân sách khiến giá xăng dầu tăng, những băn khoăn về việc mua điện từ Lào, CPI tháng 8 tăng 0,1% so tháng trướ ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t