vietbao

Cái đẹp trong thiên nhiên (I)

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Bài ca ấy là sự hóa hình của bản năng tính dục, sự giải phóng nó khỏi cái hiện thực sinh lý thô thiển - đó là bản năng tính dục động vật thể hiện bằng chính mình ý tưởng tình yêu, trong khi ấy thì những tiếng thét của con mèo động đực trên mái nhà chỉ là biểu hiện trực tiếp của xúc cảm sinh lý không làm chủ được mình. Trong trường hợp sau, động cơ vật chất chiếm ưu thế hoàn toàn, còn ở trường hợp trước, nó được cân bằng hóa bởi một hình thức lý tưởng.

LBT: Trong quá trình triển khai chuyên đề Dục tính trong văn chương, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp, xây dựng từ phía các nhà nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ và độc giả quan tâm tới lĩnh vực này. Tuy nhiên, các bài viết hầu như đồng nhất khái niệm Dục tính với hành vi tính giao, thậm chí còn nâng cấp yếu tố dục tính trong dân gian lên ngang bằng "Phật tính" trong đạo Phật.

Trong một thế giới nhận thức còn mù mờ thì điều này hiển nhiên dễ làm hài lòng những trí tuệ lười biếng nhất. Dĩ nhiên, phép "đồng quy" giúp cho quá trình tư duy khách quan hơn, tìm ra dấu vết, gốc nguồn vv... nhưng nó không hề dẫn ta tới kết luận "mọi thứ trên đời đều có giá trị như nhau". Thiết nghĩ việc sử dụng những khái niệm không đúng nội hàm của nó sẽ dẫn đến tình trạng "cào bằng" mọi giá trị hoặc gây nên những hiểu nhầm đáng tiếc.

Cả hai phía, đề cao đời sống tình dục hoặc tiết chế nó bằng mọi cách đều có giá trị và chúng đều bất cập như nhau. Điều này hầu như không cần phải chứng mình vì trong những kiệt tác nghệ thuật cũng như trong đời sống thực, không bao giờ tồn tại cái gọi là "cào bằng" mọi giá trị. Âm thanh của con mèo gào đực không bao giờ và ở đâu được coi ngang bằng với tiếng chim hoạ mi mặc dù nguyên nhân khởi phát của chúng là như nhau: Dục tính (Thuộc về thế giới động vật nên ở đây có thể hiểu là hành vi tính giao đơn thuần). Từ ví dụ thô lậu này chúng ta trở lại với nguyên lý sơ đẳng của nghệ thuật: không phải viết về cái gì mà là viết như thế nào chắc chắn sẽ mở ra nhiều điều thú vị.

Tiêu đề của chúng ta đã xác định rõ phạm vi: Dục tính trong văn chương (ảnh hưởng, tác động và các biểu hiện của nó trong tác phẩm) nghĩa là chúng ta đã mặc nhiên thừa nhận yếu tố Dục tính chi phối rất mạnh quá trình sáng tạo của nghệ sĩ. Vấn đề ở đây chỉ là: cái niềm khao khát mãnh liệt ấy (Dục tính) được thanh tẩy và khúc xạ vào những áng văn chương như thế nào? Chủ thể của niềm khao khát mãnh liệt ấy cũng như đối tượng của nó với vô vàn biểu hiện phức tạp đã xứng đáng với con người hay chưa?

Để làm rõ những vướng mắc trên chúng tôi đã xin phép dịch giả, Giáo sư Phạm Vĩnh Cư được đăng tải hai chuyên luận Cái đẹp trong tự nhiên và Cái đẹp trong nghệ thuật của thiên tài mỹ học Nga: Soloviev.

Bằng trái tim mẫn cảm và trí tuệ hiền minh, Soloviev đã chỉ ra sự khác biệt giữa cái đẹp (căn nguyên của nó là Dục tính) tồn tại trong tự nhiên và cái đẹp tồn tại trong nghệ thuật. Chiều hướng phát triển của nó trong quá trình vận động đi từ bậc thấp đến bậc cao và hiện tại vẫn chưa có điểm dừng. Điều kinh ngạc là ông đã chỉ ra sự vận động liền mạch không ngừng không nghỉ khởi đi từ thế giới vô cơ đến thế giới con người theo chiều hướng từ chưa đẹp đến đẹp như một sự tất yếu không phải bằng những lập luận không thể chối cãi mà bằng cảm hứng bay bổng của một nghệ sĩ thiên tài!

Khả năng tri nhận thế giới và khả năng thấu thị nhân học của ông đã cảm hoá được cả nhưng trí tuệ trơ ì nhất trong gần 2 thế kỷ qua và nó sẽ còn không ngừng toả sáng.

Chúng tôi cũng xin cảm ơn ông Đoàn Tử Huyến (Trung tâm Ngôn ngữ Văn hoá Đông Tây) đã cung cấp văn bản này.

Vì dung luợng khá lớn nên mỗi chuyên luận được chia làm những phần nhỏ để độc giả tiện theo dõi.

Cái đẹp trong thiên nhiên

Cái đẹp trong thiên nhiên
Cái đẹp sẽ cứu độ thế giới
(Dostoievski)

Cai dep trong thien nhien I
Triết gia Soloviev

Tưởng chừng kỳ lạ giao phó cho cái đẹp việc cứu độ thế giới, trong khi chúng ta đương phải cứu bản thân nó khỏi những thử nghiệm sáng tác và phê bình đang cố tình thay thế cái tuyệt đẹp của lý tưởng bằng cái dị quái trong hiện thực. Nhưng nếu không bối rối bởi những biểu hiện thô bạo và đôi khi lố bịch hết mức của chủ nghĩa duy thực mỹ học mới nhất (và cả chủ nghĩa duy lợi), mà đi sâu vào ý nghĩa cơ bản của những đòi hỏi của nó, thì ở chính những đòi hỏi ấy ta sẽ tìm thấy một sự thừa nhận ý nghĩa thế giới của cái đẹp.

Những người tưởng chừng truy kích cái đẹp hóa ra lại quy cho nó nhiệm vụ cứu độ thế giới. Nghệ thuật thuần túy, hay là nghệ thuật vị nghệ thuật, bị bác bỏ như là một trò chơi rỗng tuếch, cái đẹp lý tưởng bị coi khinh như là một sự tô điểm tuỳ tiện và cũng rỗng tuếch cho thực tại. Có nghĩa là người ta đòi nghệ thuật chân chính phải trở thành một công việc quan trọng, người ta thừa nhận ở cái đẹp chân chính năng lực tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới thế giới thực tại. Giải phóng những yêu cầu của các nhà mỹ học mới (các nhà duy thực chủ nghĩa và duy lợi chủ nghĩa) khỏi những mâu thuẫn lôgic mà họ thường vướng phải, và quy những yêu cầu ấy về một, chúng ta sẽ có một định thức sau đây: Cái đẹp thẩm mỹ phải đưa đến việc làm cho hiện thực trở nên tốt hơn trong thực tế.

Một yêu cầu hoàn toàn chính đáng; và nói chung cả nghệ thuật duy lý tưởng cũng chưa bao giờ chối từ nó, các nhà mỹ học thời xưa cũng thừa nhận nó. Thí dụ, bi kịch cổ đại, theo sự giải thích của Aristote (trong Thi pháp học của ông) phải thực sự làm cho tâm hồn con người trở nên tốt đẹp hơn thông qua thanh tẩy (catharsis). Tương tự như thế, Platon (trong Nhà nước) quy cho một số loại hình âm nhạc và thơ trữ tình tác dụng củng cố tinh thần dũng cảm, tức là tác dụng thực tế. Mặt khác, nghệ thuật điêu khắc, ngoài ảnh hưởng thẩm mỹ đối với tâm hồn, còn cho thấy một kiểu tác động dẫu rất không đáng kể, bề ngoài và cục bộ, nhưng vẫn là thực tế, trực tiếp và trường cửu đối với giới tự nhiên vật chất bên ngoài - tức là đối với chất liệu, mà từ đó nó sáng tạo những tác phẩm của mình. Một pho tượng đẹp, so với khúc cẩm thạch đơn thuần, rõ ràng là một vật thể thực sự mới, mà lại tốt hơn, hoàn hảo hơn (theo nghĩa khách quan), bởi vì phức tạp hơn và được cá thể hóa.

Nếu trong trường hợp này tác động làm cho tốt hơn của nghệ thuật đối với đối tượng vật chất chỉ mang tính bề ngoài thuần túy, không hề làm thay đổi những thuộc tính cơ bản của bản thân vật thể, thì tuy vậy, vẫn không có một cơ sở nào để khẳng định rằng cái phương cách tác động bên ngoài như vậy phải nhất thiết là của nghệ thuật nói chung, mãi mãi và ở mọi loại hình của nó. Trái lại, chúng ta hoàn toàn có quyền nghĩ rằng tác động của nghệ thuật cả đối với bản chất của sự vật lẫn tâm hồn con người có thể có nhiều cấp bậc khác nhau, có thể là sâu sắc và mạnh mẽ ở mức ít hay nhiều.

Song trong mọi trường hợp, dù tác động hai mặt của người nghệ sĩ có yếu đến đâu đi nữa, thì anh ta vẫn cứ sản xuất ra những vật thể mới và những trạng thái mới, một thực tại thẩm mỹ mới, mà giả sử không có anh ta thì sẽ hoàn toàn không tồn tại. Cái thực tại thẩm mỹ ấy hay là cái đẹp được hiện thực hóa ấy chỉ là một bộ phận rất không đáng kể và không có sức mạnh của toàn bộ hiện thực còn xa mới tuyệt mỹ của chúng ta. Những đối thủ của nghệ thuật thuần túy nổi dậy chính để chống lại tính bất túc hời hợt ấy của cái đẹp nghệ thuật.

Họ bác bỏ nó, không phải bởi vì nó cao thượng quá, mà bởi vì nó thiếu tính hiện thực, tức là nó không thể chiếm lĩnh toàn bộ thực tại của chúng ta, không thể cải hóa nó, làm cho nó trở nên tuyệt đẹp toàn bộ và toàn vẹn. Có thể họ không ý thức rõ điều đó, nhưng họ đòi hỏi ở nghệ thuật nhiều hơn rất nhiều so với những gì mà nó từ trước đến nay vẫn cho và đương cho ta. Và họ đúng ở điểm này, bởi vì tính hạn chế của sáng tạo nghệ thuật hiện hữu, tính hư ảo ấy của cái đẹp lý tưởng chỉ thể hiện độ không hoàn hảo trong sự phát triển của nghệ thuật con người, chứ tuyệt không phát sinh từ chính bản chất của nó.

Rõ ràng sẽ là sai lầm coi những phương cách và giới hạn hiện nay của tác động nghệ thuật là tột cùng và không thể khác được một cách vô điều kiện. Nghệ thuật cũng như mọi cái của con người, là hiện tượng biến đổi, và có thể trong tay chúng ta mới chỉ có những mầm mống rời rạc của một nền nghệ thuật thực thụ. Cứ cho là bản thân cái đẹp không thay đổi, thế nhưng khối lượng và sức mạnh của việc thực hiện nó, của việc biến nó thành hiện thực thẩm mỹ có nhiều cấp độ, và không có một sở cứ nào hết để cho tinh thần và tư tưởng ta dừng lại mãi mãi ở một bậc mà chúng ta mới kịp đạt được trong giây phút lịch sử này, mặc dù giây phút ấy đã kéo dài nhiều thiên niên kỉ.

Nói về lý thuyết triết học của cái đẹp và nghệ thuật, cần nhớ rằng bất kỳ một lý thuyết nào, kiến giải đối tượng của mình trong dạng thức hiện tại của nó, cũng phải mở ra cho nó những chân trời rộng lớn của tương lai. Sẽ là vô hiệu cái lý thuyết chỉ biết nhận xét và khái quát bằng những công thức trừu tượng quan hệ thực tại của các hiện tượng: đó chỉ là chủ nghĩa thực nghiệm đơn thuần, chỉ cao hơn một bậc so với minh triết của các khái quát dân gian. Cái lý thuyết triết học thực thụ, hiểu ý nghĩa của thực tại, tức là quan hệ tương liên của nó với tất cả những gì gần gũi với nó, bằng cách ấy nhất thiết liên hệ thực tại này với một loạt thực tại mới, còn đương đến và chưa xác định; và một lý thuyết như vậy cho dù nó có vẻ táo bạo thế nào đi nữa, vẫn không có gì là tuỳ tiện và kỳ ảo, nếu quả thật, những hệ thống rộng lớn của nó đuợc xây dựng trên cơ sở cái bản chất thực thụ của đối tượng được trí tuệ phát kiến trong hiện tượng hoặc ở giai đoạn nhất định của đối tượng ấy. Bởi vì bản chất của đối tượng tất yếu to lớn và sâu xa hơn cái hiện tượng trong lúc này, và vì thế cũng tất yếu nó (bản chất) là nguồn gốc của những hiện tượng mới sẽ thể hiện hoặc thực hiện nó một cách đầy đủ hơn.

Nhưng trong mọi trường hợp bản chất của cái đẹp phải được hiểu trước hết trong những biểu hiện thực tại hiện hữu của nó. Trong hai lĩnh vực của những hiện tượng thẩm mỹ, thiên nhiên và nghệ thuật, chúng tôi bắt đầu từ lĩnh vực rộng hơn về khối lượng, đơn giản hơn về nội dung và đi trước một cách tự nhiên (theo trật tự của tồn tại) lĩnh vực thứ hai. Mỹ học tự nhiên sẽ cho chúng ta những cơ sở cần thiết để xây dựng triết học nghệ thuật.

I

Kim cương, tức là cacbon tinh thể hóa, về thành phần hóa học đồng nhất hoàn toàn với than thông dụng. Cũng không nghi ngờ gì là tiếng hót của chim họa mi và tiếng thét của con mèo động đực, về bản chất tâm sinh lý học chỉ là một, đích thị là biểu hiện âm thanh của bản năng tính dục bột phát. Nhưng kim cương thì đẹp và cái đẹp của nó có giá đắt lắm, trong khi ấy thì ngay cả con người mọi rợ, ít đòi hỏi nhất cũng vị tất muốn sử dụng cục than làm vật trang sức. Và trong khi tiếng hót họa mi được ái mộ luôn luôn và ở mọi nơi như là một trong những biểu hiện của cái đẹp trong thiên nhiên, thì những bản nhạc của mèo thể hiện cũng cái động cơ tâm thân thể ấy, không ở đâu và không bao giờ đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho bất cứ một ai.

Từ hai thí dụ sơ đẳng ấy có thể thấy rằng cái đẹp là một cái gì đó mang tính hình thức đặc biệt, đặc thù, không phụ thuộc trực tiếp vào cơ sở vật chất của các hiện tượng và không thể quy về cái cơ sở ấy. Không lệ thuộc vào nền móng vật chất của các vật thể và hiện tượng, cái đẹp cũng không được quy định bởi cách đánh giá chủ quan theo tính hữu ích trong đời sống hay tính thú vị cảm tính, mà chúng có thể đem lại cho ta.

Những vật tuyệt đẹp thường là những vật hoàn toàn vô ích theo nghĩa thỏa mãn nhu cầu đời sống, và ngược lại, những vật hữu ích nhất nhiều khi rất không đẹp - cái đó là một mặc nhiên không phải chứng minh. Nhưng không thể bỏ qua cái lý thuyết định nghĩa gián tiếp cái đẹp bằng cái hữu ích. Mà đích thị nó khẳng định rằng cái đẹp là cái có ích đã không còn tác động nữa, hay là ký ức về lợi ích xưa kia. Cái xưa kia có ích cho tổ tiên trở thành trang sức cho hậu duệ. Nếu áp dụng mạnh bạo chủ nghĩa Darwin, có thể triển khai khái niệm về cái lợi ích xưa kia ấy rất xa và xem tổ tiên chúng ta không chỉ là những khỉ và hải cẩu, mà có thể cả sò ốc nữa. Trong lý thuyết ấy về sự chuyển hóa cái có ích thành cái đẹp có một phần chân lý hiện thực, và chúng ta không cần bác bỏ nó. Chỉ không thể hồ nghi là nó hoàn toàn không đủ cho sự kiến giải triết học hay là giới thuyết cơ bản về cái đẹp.

Đi xa hơn, ta thấy rằng cả ở những bậc thấp của phát triển tinh thần (trong thế giới động vật) cái đẹp cũng có ý nghĩa khách quan ở ngoài mọi quan hệ ích lợi thực dụng. Nhưng giả sử có thể chứng minh được sự phụ thuộc về nguồn gốc của cái đẹp vào cái hữu ích, thì vẫn không giải quyết được một tí nào cái nhiệm vụ mỹ học. Rõ ràng, tất cả những biểu hiện quan trọng của cái đẹp trong giới tự nhiên và trong nghệ thuật không liên quan đến một lợi ích thực tiễn nào hết cho chúng ta và cho cả tổ tiên dẫu là xa nhất của chúng ta. Thế thì, trong trường hợp ấy, tính hữu ích vật chất có thể có của những yếu tố nguyên khởi - mà chúng ta đang phân giải những hiện tượng đẹp ra những yếu tố ấy - cũng có ít ý nghĩa cho mỹ học, chẳng khác gì đối với cảm quan trực tiếp về cái đẹp, điều mà nó thờ ơ là việc một thân thể con người tuyệt diễm nhất cũng sinh ra từ một bào thai xấu xí vô cùng.

Câu hỏi: Vật này là cái gì? - Không khi nào trùng hợp với câu hỏi: Vật này phát sinh từ cái gì hay là từ đâu? Vấn đề về nguồn gốc phát sinh của các cảm xúc thẩm mỹ thuộc về lĩnh vực của sinh học và tâm sinh lý học; nhưng cái đó không mảy may giải quyết và thậm chí không đụng chạm đến vấn đề: Cái đẹp là gì? Theo trật tự nguồn gốc thì cái gọi là "những bà mụ bằng đá", không nghi ngờ gì, có trước những pho tượng Hy Lạp. Nhưng chẳng lẽ nào sự gợi nhớ những tác phẩm kỳ dị ấy sẽ giúp chúng ta thấu triệt bản chất thẩm mỹ của nàng Vệ Nữ từ đảo Milos? Không nghi ngờ gì là về mặt nguồn gốc phát sinh, tất cả các giác quan của chúng ta, không loại trừ cả những giác quan cấp cao: thị giác và thính giác, chỉ là sự phân hóa của xúc giác.

Nhưng chẳng lẽ vì thế mà quang học và âm học mất đi ý nghĩa độc lập của chúng? Sự phân giải các hiện tượng thẩm mỹ ra các yếu tố nguyên thủy mang tính hữu ích hay thú vị có thể là rất kỳ thú, song lý thuyết thực thụ về cái đẹp là cái lý thuyết nắm được bản chất đích thực của cái đẹp trong tất cả những hiện tượng của nó, đơn sơ cũng như phức tạp. Cũng giống như hóa học hữu cơ, mặc dù nó rất quan trọng đối với nhà sinh học, không thể thay thế những khảo cứu thực vật học và động vật học trong hoạt động của anh ta, cũng thế, những phân tích tâm sinh lý học về các hiện tượng thẩm mỹ sẽ không bao giờ có được giá trị của mỹ học thực thụ.

Cho dù những yếu tố vật chất của nó có là thế nào đi nữa, thì cái đẹp hình thức bao giờ cũng tự thể hiện như là một sự vô ích thuần túy. Song cái vô ích thuần túy ấy lại được đánh giá cao bởi con người và, như ta sẽ thấy tiếp theo, không chỉ bởi con người. Và nếu cái đẹp không thể được quý trọng như là một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu này hay nhu cầu kia của đời sống hay sinh lý, thì có nghĩa là nó được quý trọng như là một mục đích tự thân tự tại. Trong cái đẹp - ngay ở những biểu hiện đơn sơ nhất và khởi thủy nhất của nó - ta bắt gặp một cái gì đó có giá trị một cách vô điều kiện, nó tồn tại không phải vì cái khác, mà vì chính mình, bằng sự tồn tại của mình nó làm vui và thỏa mãn tâm hồn chúng ta; gặp cái đẹp, hồn ta bình tĩnh lại và tự giải thoát khỏi những khao khát và lao khổ của cuộc đời.

Cái khái niệm ấy của người cổ Hy Lạp về cái đẹp như là đối tượng của sự chiêm ngưỡng vô dục, vô tư và vô ý chí hoặc, nói đơn giản hơn, như là cái vô ích thuần túy, cách đây không lâu đã được người đại diện cuối cùng của nền triết học Đức vĩ đại phục hồi và truyền bá. Tuy nhiên, tất cả những gì mà Schopenhauer đã nói rất hay và rất đúng về đề tài này, thực chất chỉ là bình luận triết học về hai câu thơ nổi tiếng, mà ngòi bút Goethe đã buông một cách bâng quơ:

Die Sterne die begehrt man nicht
Man freut sich ihrer Pracht(2).

Không cần thiết dừng lại lâu ở phương diện này của vấn đề, thứ nhất, bởi vì nó đã được nhà tư tưởng ở Frankfurt(3) khai thác đến cùng, và thứ hai, bởi vì bản thân nó còn xa mới bao quát hết vấn đề về cái đẹp. Nói rằng cái đẹp là đối tượng của sự chiêm ngưỡng vô tư lợi hay cái đẹp là mục đích tự thân tự tại - có nghĩa là chỉ nói rằng nó không phải là phương tiện cho những mục đích bên ngoài; một định nghĩa hoàn toàn đúng, nhưng mang tính phủ định thuần túy và không có nội dung.

Dù tính vô ý chí và vô tư lợi, không thiếu được trong bất kỳ một sự đánh giá mỹ học nào, có là quan trọng đến đâu đi nữa đối với nhà tư tưởng, nhưng còn quan trọng hơn và lý thú hơn đối với anh ta là câu hỏi về bản chất tích cực riêng biệt của cái đẹp; và không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ thiên tài đã bổ sung cho chỉ dẫn phản diện của mình: die Sterne die begehrt man nicht (không thể muốn sao trên trời) một chỉ dẫn chính diện: man freut sich ihrer Pracht (có thể vui sướng trước sự lộng lẫy của chúng).

Vậy thì từ đâu mà có cái Pracht (lộng lẫy) ấy ở mọi vật đẹp - đó là cái chính mà mỹ học triết học phải giải quyết. Như là một mục đích tự thân tự tại, cái đẹp không thể phục vụ cho cái gì hết - theo nghĩa thực tiễn và đời thường nó là cái vô ích thuần túy; nhưng điều này không loại bỏ vấn đề về nội dung độc lập của bản thân mục đích ấy: vì cái gì, vì thuộc tính riêng nội tại gì mà cái vô ích thuần túy ấy lại được quý trọng?

Một gợi ý về chân lý, nhưng chỉ là gợi ý, ta bắt gặp trong một học thuyết nổi tiếng, nó nói rằng nội dung cơ bản của cái đẹp là những ý tưởng (những kiểu mẫu vĩnh cửu của các sự vật), mà ý tưởng lại là những biểu hiện đối tượng hóa (những khách thể hoá) của ý chí thế giới(4). ở đây không có lời giải đáp thực sự cho câu hỏi mỹ học, bởi vì theo lý thuyết này thì tất cả những gì tồn tại đều là sự khách thể hóa như nhau của ý chí thế giới, nhưng trong khi ấy, không phải tất cả cái tồn tại đều đẹp như nhau.

Quan niệm mà chính lôgic của nó bắt nó thừa nhận một con giun nào đó cũng đẹp như nàng Helène trên tường thành Troye, tự nó giết nó với tư cách một học thuyết mỹ học. Có những quan điểm siêu hình trừu tượng không thể dung hợp với sự thừa nhận sự khác biệt giữa thiện và ác, giữa đẹp và xấu; nhưng đã đứng trên những quan điểm như thế thì tốt nhất là hoàn toàn không suy luận về những vấn đề đạo đức và thẩm mỹ.

II

Như vậy, để sang một bên siêu hình học trừu tượng, ta hãy trở về với thí dụ thực tế về cái đẹp trong thiên nhiên, mà từ đấy ta đã khơi mào những suy luận của ta. Vẻ đẹp của kim cương, không mảy may là thuộc tính của vật chất của nó (bởi lẽ vật chất ấy cũng là vật chất của cục than đá chẳng có gì đẹp đẽ), rõ ràng phụ thuộc vào sự lung linh của ánh sáng trong những tinh thể của nó. Từ đó, tuy vậy, không có nghĩa là phẩm chất đẹp không thuộc về kim cương mà thuộc về tia ánh sáng khúc xạ qua nó.

Bởi vì cũng tia sáng ấy, phản xạ từ một vật nào đó không đẹp, không gây một ấn tượng thẩm mỹ nào hết, và nếu nó không được phản xạ và khúc xạ bởi một cái gì cả, thì sẽ hoàn toàn không gây một ấn tượng nào cả. Có nghĩa là không thuộc về cả thân thể vật chất của kim cương lẫn tia sáng khúc xạ qua kim cương, cái đẹp là tác phẩm của cả hai thứ ấy trong sự tương tác của chúng. Sự lung linh của ánh sáng, được vật chất kim cương giữ lại và làm biến thể, đã che khuất hoàn toàn cái ngoại hình thô sơ của nó, và mặc dù vật chất tăm tối của cacbon vẫn hiện hữu nơi đây, cũng như ở cục than, nhưng nó chỉ hiện ra dưới dạng vật mang đựng một bản nguyên khác, bản nguyên ánh sáng, đương thông qua sự lung linh sắc màu mà bộc lộ nội hàm của chính mình. Khi tia sáng rơi xuống cục than, nó bị vật chất than hấp thu, và màu đen của than là biểu tượng tự nhiên nói lên rằng ở đây sức mạnh xán lạn chưa chiến thắng được những bản nguyên tăm tối của tự nhiên.

Mặt khác nếu chúng ta lấy chẳng hạn một tấm thủy tinh trong đơn thuần, thì ở đây vật chất đã trở thành một môi trường trung tính đối với những tia sáng, nó để chúng đi qua mà không hề làm biến thể, không gây cho chúng một tác động nào thấy được. Và như vậy là từ hai hiện tượng đối lập ấy, ở phương diện mà chúng ta quan tâm, rõ ràng chỉ hình thành một kết quả, đích thị là kết quả phủ định: thủy tinh trắng đơn thuần, cũng như than đen ngòm, không thuộc về số những hiện tượng thẩm mỹ và không có một giá trị thẩm mỹ nào.

Và nếu kim cương rõ ràng có giá trị ấy (ở cấp sơ đẳng) thì chắc là bởi vì ở nó, cả vật chất tăm tối lẫn bản nguyên ánh sáng đều không chiếm ưu thế một chiều, mà thẩm thấu nhau trong một thế cân bằng lý tưởng nào đó. ở đây một mặt, vật chất cacbon vẫn giữ nguyên sức cản của mình (với tư cách một vật rắn), song lại tự trở nên một cái gì đó đối lập với chính mình, trở thành trong suốt, bừng sáng toàn bộ, khiến ta như không nhìn thấy nữa cái bản tính cá thể tăm tối của nó. Mặt khác tia sáng được tinh thể kim cương giữ lại ở trong nó và nhờ có nó mà có được một độ viên mãn mới của sinh tồn trong hiện tượng: khúc xạ qua các cạnh kim cương, phân giải và phân hóa thành những màu hợp thành, tia sáng trắng đơn giản biến thành một tập hợp phức tạp của các phổ đa sắc và dưới dạng ấy phản chiếu vào mắt chúng ta. Trong sự kết hợp không hòa đồng và không tách rời ấy của vật chất và ánh sáng cả hai đều bảo lưu bản chất của mình, nhưng ta không nhìn thấy chúng dưới dạng riêng rẽ, mà chỉ nhìn thấy một vật chất mang ánh sáng và một chất sáng đã nhập thể - hòn than bừng sáng và cầu vồng hóa thạch.

Không thể, vả lại chúng tôi thấy cũng không cần thiết khẳng định sự đối lập tuyệt đối giữa ánh sáng và vật chất trong bản thể siêu lý và trong thực tại vật lý của chúng. Không thể coi ánh sáng, như Schopenhauer làm, như một thực thể lý tưởng nào đó, cũng như ở vật chất không thể chỉ thấy một vật tự kỉ trần trụi, tuyệt đối không mang một thuộc tính lý tưởng nào và độc lập hoàn toàn trong quan hệ với những yếu tố tinh thần.

Nhưng dù ai đó có triết luận thế nào đi nữa về bản chất của các sự vật, cũng như dù ai đó có theo những thuyết vật lý như thế nào đi nữa về nguyên tử, ête và vận động, đối với nhiệm vụ mỹ học của chúng ta điều hoàn toàn đủ là sự đối lập tương đối và có tính hiện tượng mà rõ ràng tồn tại giữa ánh sáng và các vật có trọng lượng, bất kỳ chúng là vật gì.

Theo nghĩa ấy ánh sáng trong mọi trường hợp là một tác nhân siêu vật chất, tác nhân lý tưởng. Như vậy nhận ra rằng vẻ đẹp của kim cương phụ thuộc hoàn toàn vào sự bừng sáng của vật chất của nó, cái vật chất giữ lại trong mình và phân hóa (phát tán) những tia ánh sáng, chúng ta phải định nghĩa cái đẹp như là một sự cải hóa vật chất bằng sự nhập thân vào nó một yếu tố khác, siêu vật chất. Sau đây ta sẽ phải khơi sâu định nghĩa này và làm cho nó có đầy đủ nội dung; nhưng bản chất của nó sẽ vẫn còn lại không đổi thay ngay khi ta xem xét những biểu hiện phức tạp nhất của cái đẹp không chỉ trong thiên nhiên, mà cả trong nghệ thuật.

Trước hết, cái khái niệm ấy về vẻ đẹp, được xây dựng trên cơ sở một thí dụ sơ đẳng về những hiện tượng thị giác thẩm mỹ trong giới tự nhiên, được xác nhận hoàn toàn bằng thí dụ âm thanh cũng sơ đẳng của chúng ta. Cũng giống như ở kim cương vật chất hữu trọng và tăm tối đã hóa thành một hiện tượng quang học xán lạn, trong tiếng hát của họa mi cũng thế, bản năng tính dục vật chất đã hóa hình thành một loạt âm thanh cân đối.

Trong trường hợp này, sự thể hiện bằng những âm thanh khách quan cũng che lấp hoàn toàn cái cơ sở vật chất của đam mê tính dục; sự thể hiện ấy thu nhận được ý nghĩa độc lập và có thể được tách rời khỏi cái động cơ sinh lý trực tiếp của nó: có thể nghe con chim hót và tiếp thu ấn tượng thẩm mỹ bởi tiếng hót của nó mà quên hẳn đi cái gì thôi thúc nó hót; cũng đúng như thế, ngắm nghía viên kim cương óng ánh, chúng ta không cần nghĩ đến thành phần hóa chất của nó. Nhưng trong thực tế, cũng giống như phải là cacbon tinh thể hóa để trở thành kim cương, để trở thành bài ca họa mi phải có cái ham thích tính dục đã chuyển hóa một phần thành hình thức âm thanh khách quan.

Bài ca ấy là sự hóa hình của bản năng tính dục, sự giải phóng nó khỏi cái hiện thực sinh lý thô thiển - đó là bản năng tính dục động vật thể hiện bằng chính mình ý tưởng tình yêu, trong khi ấy thì những tiếng thét của con mèo động đực trên mái nhà chỉ là biểu hiện trực tiếp của xúc cảm sinh lý không làm chủ được mình. Trong trường hợp sau, động cơ vật chất chiếm ưu thế hoàn toàn, còn ở trường hợp trước, nó được cân bằng hóa bởi một hình thức lý tưởng.

Như vậy, cả ở thí dụ âm thanh của chúng ta, cái đẹp là kết quả của sự tác động lẫn nhau và thẩm thấu lẫn nhau của hai tác nhân: ở đây cũng giống như ở thí dụ thị giác, yếu tố lý tưởng chiếm lĩnh hiện thực vật chất, nhập thân vào trong nó, còn về phía mình thì bản nguyên vật chất thu nhập nội dung lý tưởng, nhờ đó mà hóa hình và trở nên trong sáng.

Cái đẹp là hiện thực có thật, là sản phẩm của những quá trình hiện thực tự nhiên diễn ra trong vũ trụ. ở đâu vật chất hữu trọng biến hóa thành những vật thể mang ánh sáng, ở đâu ý vọng cuồng say về hành vi xúc giác động vật cải hóa thành một loạt âm thanh cân đối và đều đặn - ở đấy chúng ta có cái đẹp trong giới tự nhiên. Cái đẹp vắng mặt mọi nơi, ở đâu những bản nguyên vật chất của thế giới hiện ra ít nhiều trần trụi, dù trong thế giới vô cơ, như là vật chất thô sơ vô hình thể, hay ở thế giới những cơ thể sống, như là bản năng sống cuồng điên.

Tuy thế những vật thể và hiện tượng không đẹp trong thế giới vô cơ không do sự không đẹp của mình mà trở nên xấu xí, dị quái, chúng chỉ là những vật trung tính về phương diện thẩm mỹ. Một đống cát hay một đống sỏi, hay mặt đất trơ trụi, hay những đám mây xám không định hình gây mưa phùn - tất cả những cái ấy trong thiên nhiên mặc dù không đẹp, nhưng không mang trong mình một cái gì rõ ràng đáng ghê tởm.

Nguyên nhân là sáng rõ: trong những hiện tượng cấp ấy, cuộc sống hoàn vũ còn ở những bậc thấp, sơ đẳng, nó ít nội dung, và yếu tố vật chất chưa có cái gì để qua đó thể hiện lực cản vô độ của mình; ở đây, nó tồn tại tương đối trong lĩnh vực của mình và làm chủ bình thản cái tồn tại nghèo nàn của mình. Nhưng ở đâu mà ánh sáng và sự sống đã chiếm lĩnh vật chất, ở đâu mà ý nghĩa hoàn vũ đã khai lộ tính viên mãn nội tại của mình, thì ở đấy những biểu hiện không kiềm chế của yếu tố hỗn mang, một lần nữa lại phá vỡ hoặc lấn át hình thức lý tưởng, dĩ nhiên phải gây ấn tượng gay gắt về cái xấu xí, cái dị quái.

Và bản nguyên vật chất càng tái hiện trần trụi và cuồng điên ở bậc cao của sự phát triển thế giới, thì những biểu hiện ấy càng gây tởm lợm nhiều hơn. Trong vương quốc động vật ta đã bắt gặp những thí dụ có quy mô lớn của cái xấu thực thụ. ở đây, có cả những lớp động vật chỉ là hiện thân trần trụi cho một trong những chức năng sống vật chất - sinh dục hay dinh dưỡng. Thí dụ, một bên, là một số giống giun nội tạng (giun sán) mà toàn bộ thân thể của chúng thực ra chỉ là một cái túi có cấu tạo rất thô sơ và mang trong mình rặt những cơ quan sinh dục, những cơ quan ấy, ngược lại, lại rất phát triển.

Bên kia, là những ấu trùng dạng giun của một số côn trùng (sâu và những loài tương tự); chúng dường như là hiện thân của chỉ một bản năng dinh dưỡng không biết no nê; ở mức nhất định, cũng có thể nói điều ấy về những động vật thân mềm kếch sù, mà những chân của chúng đồng thời là những đầu (những con mực). Những động vật ấy rõ ràng xấu xí đến dị quái. Nhưng sự dị hình dị dạng chỉ đạt cực độ ở khu vực của hình thái tự nhiên cao nhất và hoàn hảo nhất: không một con vật nào có thể xấu xí bằng con người quá xấu.

Sự tồn tại những kiểu mẫu dị hình trong giới tự nhiên lột trần tính không xác thực (hay ít nhất cũng là tính bất túc) của một quan niệm mỹ học khá phổ biến, nó xem cái đẹp chỉ như là sự thể hiện hoàn hảo bên ngoài cái nội dung bên trong, bất kỳ nội dung ấy là thế nào. Cứ theo quan niệm ấy thì sẽ phải quy vẻ đẹp cho con lợn và con mực, bởi lẽ thân thể những động vật ấy thể hiện hoàn hảo nội dung bên trong của chúng, tức là tính phàm ăn. Nhưng chính ở đây trở nên rõ rành rành rằng cái đẹp trong thiên nhiên không phải là biểu hiện của bất cứ một nội dung nào, mà chỉ của nội dung lý tưởng, cái đẹp là hiện thân của ý tưởng.

III

Giới thuyết về cái đẹp như là ý tưởng hiện thân bằng từ thứ nhất (ý tưởng) loại trừ quan niệm cho rằng cái đẹp có thể thể hiện bất cứ nội dung gì và bằng từ thứ hai (hiện thân) sửa đổi cả quan niệm khác (còn phổ biến hơn); quan niệm này mặc dù đòi hỏi cho cái đẹp một nội dung lý tưởng, nhưng nhìn thấy ở nó không phải hiện thân thật sự, mà chỉ bóng dáng hay bóng ma của ý tưởng*. Trong cách nhìn thứ hai này, cái đẹp với tư cách hiện thực tâm lý chủ quan, tức là cảm giác về cái đẹp, đã che khuất bản thân cái đẹp như một hình thức khách quan của sự vật trong giới tự nhiên. Đúng thế, cái đẹp quả là ý tưởng đã được hiện thực hoá, đã nhập thân vào hoàn vũ trước khi có con người, và sự nhập thân này mang tính hiện thực không kém và có ý nghĩa quan trọng gấp bội (về phương diện nguồn gốc phát sinh vũ trụ) so với những bản nguyên vật chất - nơi mà ý tưởng đã nhập thân. ánh lung linh của những tia sáng trong tinh thể trong mọi trường hợp hiện thực không kém chất hóa học của tinh thể ấy, và tiếng hát du dương uyển chuyển của con chim cũng là một hiện thực tự nhiên như là hành vi sinh dục.

Cái đẹp như là ý tưởng hiện thân là cái nửa thứ hai tốt đẹp hơn của thế giới chúng ta, chính là cái nửa mà không chỉ tồn tại, nhưng còn xứng đáng được tồn tại. Nói chung chúng tôi gọi ý tưởng là cái mà tự thân nó xứng đáng có. Nói một cách vô điều kiện, cái xứng đáng có chỉ có thể là một sinh linh hoàn hảo một cách viên mãn hay là tuyệt đối, tự do hoàn toàn khỏi mọi hạn chế và thiếu sót. Những sinh tồn cục bộ hay hữu hạn, tự thân không có được cái tồn tại xứng đáng hay là lý tưởng, trở nên liên can với nó thông qua quan hệ với cái tuyệt đối trong quá trình hoàn vũ, quá trình này chính là sự thể hiện từng bước ý tưởng về cái tồn tại xứng đáng ấy. Cái tồn tại cục bộ là lý tưởng hay xứng đáng chỉ chừng nào nó không phủ định cái toàn thể, mà dành chỗ bên trong mình cho cái toàn thể và cũng đúng như thế, cái toàn thể là lý tưởng và xứng đáng chừng nào nó biết dành chỗ bên trong mình cho cái cục bộ. Từ đây, dễ rút ra một giới thuyết hình thức về ý tưởng hay về kiểu thức tồn tại xứng đáng. Nó là sự tự do hoàn toàn của các bộ phận cấu thành trong sự thống nhất hoàn hảo của chỉnh thể.

Tính tự chủ của các bộ phận hay là sự tồn tại phóng khoáng của những vật thể và hiện tượng khác nhau có thể là đầy đủ ở mức nhiều hơn hay ít hơn; tính thống nhất cũng ở mức nhiều hơn hay ít hơn. Từ những khác biệt tương đối ấy mà phát sinh nhiều cấp bậc trong sự thực hiện ý tưởng, tất cả tính đa dạng và tính phức tạp của tiến trình thế giới. Nhưng ngoài những sự phức tạp hóa cục bộ trong quá trình thực hiện của mình, ý tưởng hoàn vũ ở thể khái quát nhất cũng tất yếu xuất hiện từ ba phía.

Trong nó được phân biệt: 1) tự do hay là độc lập của sinh tồn, 2) tính viên mãn nội dung hay là ý nghĩa và 3) tính hoàn hảo của sự thể hiện hay là của hình thức. Không có ba điều kiện ấy thì không có cái tồn tại xứng đáng hay là lý tưởng.

Được xem xét chủ yếu từ phía tính vô điều kiện nội tại của nó với tư cách cái được mong muốn hay là được ưa chuộng tuyệt đối, ý tưởng là cái thiện; từ phía chỉnh thể viên mãn của những định tính cục bộ mà nó bao hàm, với tư cách toàn bộ nội dung có thể được trí tuệ nhận thức, ý tưởng là cái chân; cuối cùng, từ phía sự hiện thân hoàn hảo hay là hoàn chỉnh như là cái hữu thực, được cảm hội trong tồn tại cảm tính của nó, ý tưởng là cái đẹp.

Như vậy, trong cái đẹp như là trong một cấp độ xác định của ý tưởng tam hợp, cần phân biệt bản chất lý tưởng chung và hình thức thẩm mỹ chuyên biệt. Chỉ có hình thức chuyên biệt ấy mới làm cho cái đẹp khác biệt với cái thiện và cái chân, trong khi ấy thì bản chất lý tưởng của chúng là một - cái tồn tại xứng đáng hay là sự thống nhất chính diện của tất cả, tự do của tồn tại cục bộ trong thể thống nhất của cái tổng hòa. Cái đó ta mong muốn như là lợi ích cao nhất, cái đó ta ý niệm như là chân lý và cũng cái đó ta cảm thụ như là cái đẹp. Nhưng để ta có thể cảm thụ ý tưởng, nó phải nhập thân vào thực tại vật chất. Độ hoàn chỉnh của sự nhập thân ấy quy định cái đẹp như tự nó trong dấu hiệu đặc thù của nó.

Tiêu chuẩn của cái tồn tại xứng đáng hay là lý tưởng nói chung là sự tự chủ cao nhất của các bộ phận trong sự nhất thống lớn nhất của chỉnh thể. Tiêu chuẩn của phẩm chất thẩm mỹ là sự thể hiện hoàn chỉnh nhất và nhiều mặt nhất cái yếu tố lý tưởng ấy trong chất liệu cụ thể. Dễ hiểu là, được áp dụng vào những trường hợp cá biệt, những tiêu chuẩn ấy có thể hoàn toàn không trùng hợp và phải được phân biệt một cách nghiêm ngặt.

Một mức độ rất yếu kém của cái tồn tại xứng đáng hay là lý tưởng có thể hiện thân hết sức tốt đẹp trong một chất liệu nào đó, và cũng đúng như thế, có thể có sự thể hiện hết sức không hoàn hảo những yếu tố lý tưởng cao nhất. Trong lĩnh vực nghệ thuật sự khác biệt ấy đập vào mắt và ở đây chỉ có những đầu óc hoàn toàn dốt nát mới có thể lẫn lộn hai tiêu chuẩn - ý tưởng chung và thẩm mỹ chuyên biệt.

Trong lĩnh vực tự nhiên, khác biệt ấy ít rõ ràng hơn, nhưng không thể hồ nghi, cả ở đây nó cũng tồn tại, và rất không nên sao lãng nó. Ta lại lấy hai thí dụ cũ: một bên là con giun nội tạng (giun sán), và một bên là viên kim cương. Cái thứ nhất thể hiện ở mức nhất định ý tưởng sự sống dưới dạng một cơ thể động vật; cái thứ hai, xét về nội dung lý tưởng của nó, là một mức nhất định của sự làm sáng vật chất vô cơ. Thế nhưng ý tưởng sự sống hữu cơ, dù chỉ ở cấp độ con giun, vẫn cao hơn ý tưởng chất tinh thể, dù là dưới dạng kim cương. ở kim cương, vật chất chỉ được làm sáng từ bên ngoài, trong khi đó ở con giun, nó được làm sống từ bên trong.

Trong một cơ thể đơn sơ nhất ta vẫn tìm thấy nhiều hơn những bộ phận đặc thù được tập hợp và nhiều hơn tính nhất thống giữa chúng so với chất thạch dẫu hoàn hảo nhất; bất kỳ một sinh thể nào cũng phức hợp hơn và đồng thời lại cá thể hơn hòn đá. Như vậy, theo tiêu chuẩn thứ nhất, con giun sán cao hơn kim cương bởi vì phong phú nội dung hơn. Nhưng nếu thuần túy áp dụng tiêu chuẩn thẩm mỹ, ta sẽ đi đến kết luận khác. ở kim cương, ý tưởng đơn giản, sơ đẳng về khoáng thể (đá quý) được làm sáng đã được thể hiện hoàn chỉnh hơn và hoàn hảo hơn so với sự thực hiện một ý tưởng phức tạp hơn và cao hơn về sự sống hữu cơ (cụ thể, động vật) ở con giun sán.

Kim cương là một vật hoàn hảo trong chủng loại của mình, bởi vì không ở đâu một sức cản hay là sức không cho thẩm thấu lớn đến thế lại kết hợp với một tính phát sáng như thế; không ở đâu, ta bắt gặp một sự lung linh rực rỡ và tinh vi như thế của ánh sáng trong một chất rắn như thế. ở con giun, ngược lại ta thấy một trong những biểu hiện không hoàn hảo nhất của ý tưởng sự sống hữu cơ, là lĩnh vực của con vật này.

Mặc dù xét về thành phần hóa học của các tế bào của nó, con giun là vật thể phức tạp hơn kim cương, nhưng tổ chức của nó lại hết sức sơ lược và nghèo nàn. Cũng hệt như thế, mặc dù xét về sức mạnh của tính thống nhất cá thể, cái sinh thể đơn sơ nhất này vẫn ưu việt hơn bất kỳ một thứ kim cương nào bởi vì nó không thể, giống như kim cương, phân chia một cách trung tính, tức là vẫn còn lại mình là mình, thế nhưng về phương diện hữu cơ, tính thống nhất này là yếu ớt đến mức nó đôi khi không bảo tồn được ý tưởng cơ thể (khả năng phân chia theo đốt). Như vậy xét từ góc độ thẩm mỹ thuần túy, con giun như là một hiện thân hết sức bất hoàn hảo của cái ý tưởng tương đối cao của mình (cơ thể động vật) phải được đặt thấp hơn rất nhiều so với kim cương là một hiện thân hoàn hảo và hoàn chỉnh của ý tưởng, mặc dù nghèo nội dung, về chất đá được làm sáng.

.............
Chú thích: * Thực ra, Eduard Hartmann trong cuốn Mỹ học dày cộp và lắm lời xuất bản gần đây cũng không vươn lên cao hơn quan niệm này, bất chấp cái "chủ nghĩa hiện thực siêu nghiệm" của ông.

IV

Vật chất là cái tồn tại trơ ì và không thể thẩm thấu - đối lập trực diện với ý tưởng như là sự tất cả thẩm thấu tất cả hay là tính nhất thống chính diện của tất cả. Chỉ ở ánh sáng vật chất mới tự giải thoát khỏi tính trơ ì và không thể thẩm thấu của mình, và như vậy thế giới hữu hình lần đầu tiên phân chia thành hai cực đối lập. ánh sáng hay chất phi trọng lượng - ête là hiện thực nguyên khởi của ý tưởng trong sự đối lập với vật chất hữu trọng, và theo nghĩa ấy nó là nguyên tố thẩm mỹ đầu tiên trong giới tự nhiên.

Những hiện tượng tiếp theo của nó được quy định bởi kết hợp ánh sáng với vật chất. Sự kết hợp này bao gồm hai loại: những kết hợp cơ học hay là bên ngoài và những kết hợp hữu cơ hay là bên trong. Loại kết hợp thứ nhất sản sinh ra những hiện tượng quang học trong thiên nhiên. Loại kết hợp thứ hai - những hiện tượng của sự sống. Khoa học ngày xưa ức đoán, còn khoa học ngày nay thì chứng minh rằng sự sống là biến thể của ánh sáng. Như vậy vật chất trở nên đẹp nhờ tác động cũng vẫn của một bản nguyên sáng, ban đầu nó chỉ soi sáng cái bề ngoài của vật chất, sau đó nó thẩm thấu vào bên trong, làm cho vật chất trở nên sống động và tổ chức nó.

Trong thế giới vô cơ, cái đẹp thuộc về những vật thể và hiện tượng, mà trong đó hoặc vật chất trực tiếp trở thành chất mang ánh sáng, hoặc cái tự nhiên vô tri vô giác tựa như hấp thụ linh hồn và trong sự vận động của mình biểu lộ những nét của sự sống. Ta cứ để cho khoa siêu hình học giải quyết vấn đề, ở đây đến mức độ nào có ảo giác chủ quan và đến mức độ nào, trong thực tế, thiên nhiên - không kể các thể hữu cơ (thực vật và động vật) - mang sẵn trong mình sự sống, tức là khả năng tiếp thụ nội tại và chuyển động độc lập. Đối với chúng ta, trong ranh giới của suy luận mỹ học, đã là đủ, nếu trong hiện tượng được nói đến, cái đẹp phát sinh không từ bản thân sự vận động cơ học, mà từ ấn tượng về sự chơi giỡn của các lực sống. Nhưng ban đầu xin nói vài lời về cái đẹp thiên nhiên vô cơ trong trạng thái tĩnh tại của nó, về cái đẹp có tính quang học thuần túy.

Trật tự hiện thân của ý tưởng hay là trật tự hiển lộ cái đẹp trong thế giới tương ứng với trật tự phát sinh vũ trụ chung: trước tiên, Thượng Đế sáng tạo ra trời... Nếu tổ tiên của chúng ta coi trời là cha của các thần, thì chúng ta, mặc dù không sùng bái thần Svarog hoặc Varuna(5) và tuyệt không nhìn thấy ở bầu trời những dấu hiệu của một sinh linh cá thể, chúng ta vẫn ngưỡng mộ vẻ đẹp của nó không kém những người theo đạo đa thần. Như thế có nghĩa là cái đẹp không phụ thuộc vào những quan niệm chủ quan của chúng ta, mà liên quan với những thuộc tính có thật của không gian vũ trụ mà ta thấy được. Những thuộc tính thẩm mỹ ấy của bầu trời được quy định bởi ánh sáng: chỉ có bầu trời được chiếu sáng mới đẹp. Trong ngày mưa xám xịt hay là đêm tối không trăng sao bầu trời không có một tí vẻ đẹp nào. Nói về vẻ đẹp ấy, chúng tôi thực ra chỉ nói về những hiện tượng quang học diễn ra trong phạm vi không gian vũ trụ mà con mắt ta thấy được.

Bầu trời bao trùm hoàn vũ đẹp, thứ nhất, như là hình ảnh của tính thống nhất của toàn thể vũ trụ, như là biểu hiện của sự ưu thắng bình thản, sự chiến thắng vĩnh cửu của bản nguyên sáng tươi đối với cái hỗn mang rối loạn, sự hiện thân muôn thuở của ý tưởng trong toàn bộ tồn tại vật chất. Cái ý nghĩa chung ấy hiện ra xác định hơn trong ba dạng thức của vẻ đẹp của trời - vẻ đẹp của mặt trời, vẻ đẹp của trăng và vẻ đẹp của sao.

1. Tính thống nhất của tất cả trong hoàn vũ và chất vật lý thể hiện nó - ánh sáng ở trung tâm tích cực của chính mình - mặt trời. Mặt trời mọc là hình ảnh của sự toàn thắng chủ động của các sức mạnh tươi sáng. Vì vậy mà có cái vẻ đẹp đặc biệt của bầu trời trong giờ phút khi mà:

Trong khắp thiên nhiên vô biên
Vang đi lời báo tin lành cho toàn thế giới
Của những tia mặt trời chiến thắng.
(Tiutchev)

Vẻ đẹp rực rỡ của bầu trời giữa trưa quang đãng cũng là sự toàn thắng ấy của ánh sáng, nhưng là cái thắng đã đạt được, không trong hành động, mà trong tĩnh tại bất động không gì quấy đảo:

Như những giấc mộng của thiên nhiên
Những làn mây gợn sóng trôi qua.
(Fet)

2. Tính thống nhất của tất cả trong hoàn vũ từ phía giới tự nhiên vật chất hấp thụ ánh sáng phản chiếu hay là vẻ đẹp thụ động nữ tính của đêm trăng. Như bước quá độ tự nhiên từ dạng mặt trời sang dạng mặt trăng - vẻ đẹp của bầu trời hoàng hôn và mặt trời đang lặn, khi mà sự giảm thiểu lực trực diện trung tâm của ánh sáng được đền bồi bằng sự phong phú sắc thái hơn trong môi trường được soi sáng.

3. Tính thống nhất của tất cả trong hoàn vũ và chất thể hiện nó - ánh sáng - trong sự phân hóa nguyên thủy thành nhiều trung tâm độc lập, nhưng được bao trùm bởi trạng thái hòa hợp chung - vẻ đẹp của bầu trời đầy sao. Rõ ràng ở vẻ đẹp này, ý tưởng về tính thống nhất chính diện của tất cả được thực hiện đầy đủ hơn và hoàn hảo hơn ở hai vẻ đẹp trước.

Tuy nhiên không nên quên rằng cả ấn tượng trực tiếp về cái đẹp của giờ trưa rực rỡ hay của đêm trăng cũng như sự đánh giá thẩm mỹ tất yếu bao trùm toàn bộ bức tranh thiên nhiên trong lúc ấy, tất cả những vật thể và hiện tượng trên mặt đất được mặt trời hay mặt trăng chiếu sáng; chúng có vẻ đẹp riêng của chúng, được làm mạnh thêm bởi sự chiếu sáng đặc biệt, nhưng đến lượt mình chúng cũng làm gia tăng vẻ đẹp của bầu trời sáng, trong khi ấy thì khi ta chiêm ngưỡng đêm sao, ấn tượng thẩm mỹ bị hoàn toàn giới hạn bởi bầu trời, còn vẻ đẹp của những vật trên mặt đất đã chìm vào bóng tối thì không thể còn ý nghĩa. Nếu ta loại trừ đi tính không đồng đều ấy và khi đánh giá thẩm mỹ bầu trời trưa và đêm trăng ta quên đi cái cảnh quan thiên nhiên được soi sáng, thì ai ai cũng sẽ đồng ý rằng trong ba dạng bầu trời, bầu trời sao có độ đẹp cao nhất*.

Từ không gian vô tận của các tinh tú bước vào cương vực chật hẹp của khí quyển trái đất chúng ta, chúng ta bắt gặp những hiện tượng thẩm mỹ thể hiện ở độ khác nhau sự bừng sáng của vật chất hay là sự nhập thân vào trong nó yếu tố lý tưởng. Về phương diện này, có vẻ đẹp riêng biệt của mây trắng, được mặt trời ban mai hoặc lúc chiều tà chiếu sáng, với những sắc thái và màu sắc khác nhau, vẻ đẹp của Bắc cực quang v.v...

Cũng ý tưởng ấy (sự thẩm thấu lẫn nhau giữa ánh sáng trời và bản nguyên đất) được thể hiện đầy đủ hơn và xác định hơn ở cầu vồng. Cầu vồng biến hóa cái vật chất tăm tối và không có hình thể của hơi nước trong khoảnh khắc trở thành sự khải huyền rực rỡ và đầy màu sắc của ánh sáng đã nhập thể và vật chất đã bừng sáng:

Đột ngột làm sao và rực rỡ làm sao
Trên nền xanh ẩm ướt của trời
Một cửa vòm cất lên nhẹ nhõm
Trong thắng lợi phút giây của nó!
Cắm một chân xuống rừng
Chân khác khuất trong mây,
Nó ôm chặt nửa bầu trời
Và kiệt sức ở trên cao!
(Tiutchev)

Vẻ đẹp của biển bình yên cũng thuộc về cái đẹp quang học. Ở nước, bản nguyên vật chất lần đầu tiên tự giải thoát khỏi tính trơ ì và tính cứng rắn không thẩm thấu được của mình. Cái nguyên tố lưu lỏng này là mối liên lạc giữa trời và đất, và ý nghĩa này của nó hiển lộ trực quan trong bức tranh biển lặng phản ánh màu xanh vô tận và ánh chói lọi của trời. Bản tính ấy của vẻ đẹp của nước còn hiện ra rõ hơn trong mặt gương phẳng lặng của hồ hay sông.

Bên cạnh những hiện thân của ánh sáng trong vật chất dạng khí (mây, cầu vồng) và trong vật chất lỏng vừa được nhắc đến, cần nói thêm về những hiện thân của nó trong các chất rắn - những kim loại và đá quý. Những gì đã nói ở trên về kim cương cũng nhiều hay ít có thể quy về đây.

.............
Chú thích: * Mọi người đều biết sự khác biệt mà mỹ học Đức (nhất là từ thời Kant) đặt ra giữa cái đẹp và cái cao cả (erhabenes)(6), mà bầu trời đầy sao thì lại được quy về phạm trù thẩm mỹ thứ hai ấy. Chúng tôi có cảm tưởng rằng ở đây một sắc thái nhất định của cái đẹp được nâng cấp một cách không đủ cơ sở thành một phạm trù độc lập, đối lập hóa với cái đẹp nói chung. Tuy vậy, không thể gán ghép một ý nghĩa quan trọng cho vấn đề thuật ngữ này, và trong mọi trường hợp trong tiếng Nga, chúng ta hoàn toàn có quyền nói về vẻ đẹp của bầu trời sao.

  • Dịch giả Phạm Vĩnh Cư
Việt Báo

Comment :Cái đẹp trong thiên nhiên (I)
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Cái đẹp trong thiên nhiên (I) bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Cai dep trong thien nhien I ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Cái đẹp trong thiên nhiên (I) ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Văn Hóa
Beauty of Nature (I)
in any case, no doubt, the existence, uniqueness, in the case, the expression, beauty, wealth, ideas, we , aesthetics, light, to, new forms
song that is the chemical form of the sexual instinct, the release it from the gross physical reality - that sexual animal instinct shown by I love the idea, while it is the cry of the male cat on the roof ...
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h248 Chat xac nguoi tinh bo bao tai o Sai Gon
    Thời sự 24h(24/8): Chặt xác người tình bỏ bao tải ở Sài Gòn

    Cứu một cụ bà trong đám cháy, thiếu úy CSGT nhập viện cùng nạn nhân; Cắt điện, nước của quán cà phê Xin Chào là sai quy định; Nhiều phi công xác nhận bị chiếu đèn laser khi hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất; Sập hầm vàng ở Lào Cai: công bố danh tính 7 công nhân bị chết; Ẩn tình vụ vợ U60 thuê người đánh sảy thai cô giúp việc 19 tuổi

  • Thoi su 24h238 Gai tre thue chat chan tay truc loi
    Thời sự 24h(23/8): Gái trẻ thuê chặt chân tay trục lợi

    Xé áo, cắt tóc nhân tình ở phố: Nhân tình là "osin" của kẻ chủ mưu; Giám định ADN để nhận dạng 150 ngôi mộ bị xâm phạm; Vụ "tháp nghiêng" chờ sập: 3/4 hộ dân đã di dời; Dân không có quyền kiểm tra CSGT': Giám sát khác kiểm tra; Bạn gái trễ giờ lên máy bay, nam thanh niên xông vào đánh nhân viên hàng không

  • Thoi su 24h228 Nhung vu giet hai can bo tai tieng
    Thời sự 24h(22/8): Những vụ giết hại cán bộ tai tiếng

    TPHCM kiểm tra "lót tay" lấy sổ đỏ: Sẽ như Hà Nội?; Những vụ giết hại cán bộ bằng súng tai tiếng nhất từ trước tới nay; Hé lộ nguyên nhân ban đầu vụ nhóm côn đồ nổ súng truy sát 1 gia đình ở Thanh Hóa; Nước biển miền Trung 'đạt chuẩn' để tắm và nuôi thủy sản; Cán bộ điều tra đánh người nhưng vẫn có thư cảm ơn;... là những tin tức thời sự nổi bật ngày 22/8/2016.

  • Tong hop tin An ninh phap luat tuan 142082016
    Tổng hợp tin An ninh - pháp luật tuần (14-20/8/2016)

    Như một gáo nước lạnh tạt vào mặt khi dư luận còn đang bàng hoàng trước thảm án Lào Cai. Trọng án Yên Bái, 3 nạn nhân là những người đứng đầu cơ quan lãnh đạo tỉnh. Thảm án Hà Giang, mẹ giết 3 con ruột vì mâu thuẫn với chồng. Giết mẹ vợ và em vợ ở Thái Bình.Những vụ án như một chuỗi sự kiện tiếp diễn xảy ra trong một thời gian ngắn. Có thể nói tuần này là t

  • Toan canh kinh te tuan 1408 20082016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (14/08- 20/08/2016)

    Những dự án lọc dầu lớn phải bù lỗ tới hàng nghìn tỷ đồng, Bộ Công thương phản hồi về bộ nhiệm tại Sabeco, bảo mật tại các NH lớn, giá xăng tăng trở lại...Cùng với đó là những thông tin bất động sản, tài chính- ngân hàng, thị trường tiêu dùng... tiếp tục là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuần qua.

  • Tong hop tin Doi song tuan qua 15218
    Tổng hợp tin Đời sống tuần qua (15-21/8)

    Mới đây, lời cảnh báo được một vị phụ huynh đưa ra cùng với hình ảnh được cắt ra từ camera của lớp học mẫu giáo cho thấy một bé trai đang cố làm chuyện người lớn với bé gái trong giờ nghỉ trưa khiến nhiều bậc cha mẹ phải suy ngẫm.