Còn khi về nhà, nhiều người mang theo vết sẹo tâm lý khó lành, trở nên lạc lõng trong xã hội và chính gia đình mình.
Chưa bao giờ nước Mỹ lại có nhiều phụ nữ mang sẹo tâm lý sau chiến tranh đến thế. Số liệu của Bộ Cựu chiến binh Mỹ cho thấy, tính đến tháng 6/2008, có tới 19.084 phụ nữ trở về từ chiến trường Iraq và Afghanistan bị rối loạn tâm thần, trong đó có 8.454 người mắc chứng rối loạn hậu chấn thương. Con số thực tế có thể còn cao hơn thế.
Khó thoát bóng ma quá khứ
Rối loạn hậu chấn thương khiến một số nữ quân nhân sau khi giải ngũ vẫn mơ thấy cảnh đánh nhau, còn một số khác mắc chứng hoang tưởng. Rất nhiều người không ra khỏi nhà trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm vì cảm thấy bối rối, lạc lõng trong đời thường, vì nhớ bạn chiến đấu ở Iraq hoặc Afghanistan, vì bị sự thảm khốc của chiến tranh ám ảnh.
Trở về gia đình, phần đông nữ quân nhân phải đối mặt các vấn đề nan giải: cựu chiến binh nam và bạn bè không coi họ là chiến binh thực sự, chồng chẳng biết kiên nhẫn khi họ chưa sẵn sàng thân mật, xã hội luôn kỳ vọng họ chăm sóc người khác, chứ không phải người được chăm sóc.

Tại chiến trường Iraq, Renee Peloquin nhận cuộc gọi báo tin bạn thân nhất của cô vừa chết trận.
Pacquette là một trong hàng ngàn nữ quân nhân phải gánh chịu chứng rối loạn thần kinh sau khi trở về từ chiến trường. Chứng rối loạn khiến người phụ nữ 52 tuổi này tránh gọi điện cho con trai, không ra ngoài ăn tối với chồng và trốn những buổi trị liệu tâm lý khiến bà phải nhớ lại hình ảnh đầy máu me của bạn bè chết nơi tiền tuyến.
Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, nghiên cứu tâm lý ban đầu đối với cựu chiến binh nam và nữ từng ở Iraq cho thấy họ có sức khỏe tinh thần như nhau. “Số liệu cho thấy nữ chiến binh xử lý căng thẳng trên chiến trường tốt như nam giới”, đại tá Carl Castro, Giám đốc Chương trình nghiên cứu quân sự thuộc Bộ quốc phòng, cho biết.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và cựu chiến binh nói rằng, những tình huống trên chiến trường và cách họ được xã hội tiếp nhận sau khi rời quân ngũ mới là điều tạo nên sự khác biệt. Ví dụ, nam quân nhân giải ngũ có thể tìm đến rượu để xua đi hình ảnh đồng đội bỏ mạng chốn sa trường, nhưng phụ nữ thường phải chịu đựng một mình.
“Đang tay vùi liễu dập hoa...”
Ở Iraq và Afghanistan, quân đội Mỹ không tuân theo quy định cấm phụ nữ trực tiếp tham gia những cuộc đọ súng. Chỉ huy cần nguồn lực nên vẫn để “bóng hồng” chiến đấu trên các con đường bụi bặm, tại những tiền đồn tối tăm ngoài sức tưởng tượng của cha mẹ nữ quân nhân.
Pacquette nhập ngũ hồi thập niên 80 của thế kỷ trước theo sự khích lệ của bố - người tham gia nhiều trận đánh trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ông cảnh báo con gái, trong quân đội, phụ nữ thường bị coi là yếu đuối và ủy mị, đàn ông bị ốm suốt thì không sao nhưng phụ nữ đổ bệnh lại là chuyện lớn. Trong khi đó, bom đạn không biết “thương hoa tiếc ngọc”.
Tháng 10/2004, Pacquette theo đoàn hộ tống 30 xe từ Kuwait tới Mosul, một trong những thành phố bạo loạn nhất Iraq. Trên đường đi, đoàn xe 3 lần bị vướng bom gài ven đường. Một quả phát nổ cạnh chiếc xe không bọc thép mà bà đang chĩa súng canh chừng ngày đêm.
Tuy phục vụ trong quân ngũ 20 năm với hai lần chinh chiến ở Iraq nhưng cuối cùng Pacquette cũng chỉ là "lính trơn".
“Sau khi giải ngũ, nhiều nam giới bị rối loạn hơn vì họ là lực lượng chính xông pha trận mạc. Nhưng người ta không đánh giá hết những gì phụ nữ phải trải qua. Họ cũng phải chịu đựng chẳng kém gì nam giới”, Tiến sĩ Patricia Resick, Giám đốc Ban khoa học sức khỏe phụ nữ (Bộ Cựu chiến binh), nói.