vietbao

Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh

Trích Hồi ký của Đại tướng Lê Đức Anh, Nguyên Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh Xuân 1975, Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh
Đại tướng, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh.

Sau cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh: Giôn-xơn tuyên bố rút lui khỏi cuộc tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 2; rút quân đội Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam; ngừng ném bom miền Bắc ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris. Ngày 25/1/1969, “Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” chính thức khai mạc. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Đảng, cách mạng nước ta càng đẩy mạnh ba mũi tiến công: Chính trị, quân sự và ngoại giao, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của ba đòn tiến công này, trong đó đẩy mạnh tiến công chính trị và quân sự để hỗ trợ cho đấu tranh ngoại giao.

Nhưng, với một cường quốc giàu vào bậc nhất thế giới, Mỹ không chịu "thua non" một nước, một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam.

Sau nhiều năm "làm ngơ", không dám động vào đất nước Chùa Tháp (vì Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-núc đã từng tuyên bố Campuchia giữ vững nền trung lập thật sự, nếu Mỹ động vào Campuchia thì Quốc vương sẽ kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa mà trước hết là gọi Trung Quốc giúp đỡ…), nhưng trước tình hình bế tắc của cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 18/3/1970, Mỹ đã chủ mưu đảo chính lật đổ Xi-ha-núc, thành lập chính quyền tay sai Lon-non. Tiếp ngay sau đó, để cô lập, bóp nghẹt ta ở miền Nam, đảm bảo cho "Việt Nam hoá chiến tranh" thành công, Mỹ chủ trương triệt phá căn cứ, cắt đường hành lang chiến lược của ta từ Bắc vào Nam để cuộc kháng chiến của ta sẽ tàn lụi; từ 30/4/1970 đến tháng 1/1971, quân Mỹ cùng chính quyền Sài Gòn phối hợp với quân Lon-non mở ba cuộc hành quân lớn từ Nam Việt Nam sang Campuchia với mục tiêu chiến lược là xoá bỏ "đất thánh", tiêu diệt Bộ chỉ huy và Trung ương Cục miền Nam của ta, phá kho tàng và hành lang tiếp vận, tập dượt cho quân đội Sài Gòn để quân Mỹ rút dần.

Bộ đội Nam Bộ đã cùng quân tình nguyện tại chỗ, phối hợp với quân của bạn đánh bại các cuộc hành quân của chúng. Vùng giải phóng và căn cứ cách mạng Campuchia hình thành một khu vực rộng lớn và liên hoàn 5 tỉnh: Kra-chiê, Stung Treng, Môn-đôn-ki-ri, Ra-ta-na-ki-ri, Prết Vi-hia. Phần lớn nông thôn của 10 tỉnh khác bao gồm 61/102 quận, huyện với 4,5/5 triệu dân. Thắng lợi 3 chiến dịch nói trên đã đánh bại cơ bản chiến lược "Khơ-me hoá chiến tranh" của Mỹ; buộc quân Lon-non phải co về bảo vệ Phnôm Pênh và trục đường số 4 đi Xi-ha-nuc-vin, tạo điều kiện thuận lợi cho những năm sau đó bạn tiến lên giành toàn thắng.

Cùng với ba cuộc hành quân nói trên, Mỹ và quân đội Sài Gòn (cũ) tổ chức cuộc tiến công với quy mô lớn hơn hẳn ba cuộc, đó là cuộc hành quân "Lam Sơn 719", nhằm mục đích: Đánh phá và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta từ gốc. Tập trung huỷ diệt cơ sở hậu cần chiến lược, làm suy yếu sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ta, buộc chủ lực ta không thể tập trung đánh lớn vào mùa khô 1971-1972 và năm 1972, phải quay về hoạt động chiến tranh du kích, để quân Mỹ yên tâm rút khỏi chiến tranh; đồng thời là cuộc thử sức cho quân đội Sài Gòn, quân đội Lon-non của Lào, rèn luyện chúng trở thành lực lượng nòng cốt thực hiện "Việt Nam hoá chiến tranh". Lực lượng huy động lúc cao nhất là 55.000 tên (gồm 4 vạn quân Sài Gòn cũ và 15.000 quân Mỹ), 2 lữ đoàn thiết giáp có 5 tiểu đoàn với 578 xe của Mỹ, 21 tiểu đoàn pháo binh với 318 pháo từ cỡ 105 ly trở lên, 1.000 máy bay các loại, có 400 chuyến bay B52. Về phía ta, sau 52 ngày chiến đấu, chiến thắng của ta tại chiến dịch phản công Đường 9 Nam Lào đã tác động mạnh mẽ đến cục diện chung chiến trường ba nước Đông Dương; đánh dấu một bước thất bại quan trọng chiến lược "Việt nam hoá chiến tranh" của Mỹ.

Từ ngày 31 tháng 3 đến 27 tháng 6 năm 1972, ta nổ súng ra đòn tiến công trên chiến trường Trị Thiên, đập tan tuyến phòng thủ phía bắc Quảng Trị, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của đối phương, giải phóng một vùng rộng lớn phía bắc và phía tây tỉnh Quảng Trị, tây Thừa Thiên.

Ngày 5 tháng Tư năm1972, chủ lực của B2 tiến công giành thắng lợi lớn trên đường 13, diệt một trung đoàn thiết giáp, diệt và làm tan rã chiến đoàn 1, sư đoàn 5, chiếm thị trấn Lộc Ninh…

Trên chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long, bắt đầu từ đêm 6 rạng ngày 7 tháng 4 năm 1972, các lực lượng vũ trang đồng loạt nổ súng tiến công, giành giật quyết liệt với quân đối phương từng mảnh đất, nhánh sông với 6 đợt cao điểm suốt từ tháng 4 đến tháng 8/1972. Ta đã diệt, bắt rồi thả và binh vận làm rã ngũ, gọi hàng... tổng cộng ta đã làm giảm 12.000 binh lính; tiêu diệt 4 chi khu, 2 yếu khu, 6 căn cứ trung đoàn và tiểu đoàn. Trong 916 đồn bốt mà ta đã diệt, bức rút, binh vận khởi nghĩa, có 600 đồn do lực lượng chính trị, binh vận xã ấp trực tiếp gỡ. Song, quân đối phương đã tái chiếm, tái dựng 650 đồn bốt, đủ thấy cuộc đấu tranh ở đây gay go, quyết liệt như thế nào. Ta giải phóng được 400 ấp với gần 80 vạn dân (so với cuối 1971 ta mới giải phóng được 20 vạn dân). Lực lượng vũ trang đã có bước phát triển mới: Dân quân du kích tăng 50%, bộ đội địa phương của tỉnh và huyện tăng từ 20% đến 50% quân số. Điều quan trọng nhất là các đảng bộ địa phương đã bám được trong dân, trong đó có trên 1.000 ấp trước đây bị địch kìm kẹp hoàn toàn, nay đã xây dựng được cơ sở Đảng và bắt đầu phát huy tác dụng lãnh đạo với quần chúng. Bộ đội địa phương tỉnh và huyện đã gắn chặt được với dân quân du kích trong tác chiến và xây dựng. Bộ đội chủ lực của quân khu đã đứng vững được trên địa bàn cơ động, giữ được thế liên hoàn phía trước và phía sau, liên hoàn giữa các khu vực chiến trường. Đội hình hậu cần tại chỗ được triển khai, hành lang giao thông liên lạc từ Khu lên Miền và xuống các tỉnh, huyện; xã thông suốt tạo điều kiện cho công tác chỉ đạo, chỉ huy sử trí các tình huống kịp thời hơn.

Tuy rằng qua những năm chống phá bình định ác liệt, phong trào quần chúng mới khôi phục và đang củng cố, hành động cách mạng chưa cao, quần chúng chưa thật tin tưởng vào sức mình để đứng lên cùng với lực lượng vũ trang tiến công và nổi dậy; nhưng thắng lợi thu được của hai năm 1971-1972 đã làm thay đổi hình thái chiến trường có lợi cho ta. Từ chỗ bị lấn chiếm gần hết đất, hết dân (còn không đầy 2000 dân), hoàn toàn nằm trong thế bị động chống đỡ địch đánh phá, Quân khu 9 đã gượng dậy và chuyển dần sang chủ động tiến công, đẩy lùi quân địch dần vào sát thị xã, thị trấn, đánh bại bước đầu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Đế quốc Mỹ, sau khi bị thua một bước rất cơ bản, rất đau sau Mậu Thân 1968, phải ngồi vào bàn hội nghị. Nhưng Mỹ vẫn không chịu rời bỏ mục tiêu xâm lược Việt Nam. Một mặt tăng cường viện trợ cho quân đội và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh đánh phá - bình định, giành dân, lấn đất một cách quyết liệt ở miền Nam, một mặt tái hồi cuộc chiến tranh phá hoại bằng Hải quân và Không quân đối với miền Bắc với tốc độ cao, cường độ lớn, vũ khí phương tiện hiện đại, kể cả ném bom rải thảm hủy diệt bằng “pháo đài bay B52” đối với Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các khu công nghiệp, thả mìn và thủy lôi phong tỏa cảng biển Hải Phòng. Đế quốc Mỹ quyết “chơi ván bài cuối cùng” để kết thúc chiến tranh Việt Nam trong thế có lợi. Chỉ đến khi bị thua đau, thua đậm tại các chiến dịch 1970-1971 trên chiến trường Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, cộng hưởng với thất bại thảm hại sau 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, ngày 23/1/1973, Cố vấn an ninh, đặc phái viên của Tổng Thống Mỹ - Henri Kitsingiơ mới chịu ký tắt với đồng chí Lê Đức Thọ vào văn bản Hiệp định; Và, ngày 27/1/1973 Hiệp định chính thức mới được ký kết. Hiệp định Paris có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28/1/1973. Ngày 29/3/1973, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ cuốn cờ về nước.

Đến đây, lời thơ chúc Tết Mậu Thân mang tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đã rõ như ban ngày.

Trong Hiệp định có nhiều nội dung rất cơ bản, rất hay, nếu nói riêng ở góc độ tư duy quân sự thì hay nhất là ở chỗ Hiệp định quy định quân Mỹ rút, còn tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang còn lại của “hai bên Việt Nam” ở nguyên tại chỗ. Như vậy ta đã đánh bại âm mưu “phân tuyến” của đối phương, bộ đội ta không phải “tập kết” ra một nơi (như thời Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954), mà ngược lại, ta duy trì trên chiến trường thế xen kẽ “da báo” trên cả ba vùng chiến lược - rừng núi, đồng bằng và đô thị, một thực trạng rất có lợi cho ta, bất lợi cho quân địch.

Hiệp định đã được ký kết thì chúng ta rất phấn khởi lắm, nhưng khi ta lấy được tài liệu mật của đối phương và qua theo dõi các động thái, thì ta càng thấy rõ âm mưu phá hoại Hiệp định của họ. Những kẻ cầm quyền hiếu chiến trong chính giới Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn thấy rằng tuy Mỹ phải rút quân, nhưng quân đội Sài Gòn còn 1,1 triệu với 13 sư đoàn chủ lực, lại được Mỹ viện trợ tối đa về quân sự và kinh tế nên vẫn nuôi ảo vọng sẽ thắng ta bằng chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Bởi vậy, nếu theo văn bản Hiệp định thì 7 giờ sáng 28-1-1973, hai bên bắt đầu ngừng bắn, nhưng cũng chính ngày đó Tổng thống chính quyền Sài Gòn công khai tuyên bố trong diễn văn của mình là “Ngừng chiến, không ngừng bắn, không thi hành Hiệp định Paris !...” và Thiệu đã gào thét chỉ đạo cấp dưới tiếp tục hành quân bình định, tiếp tục đánh và giết, tiếp tục kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” với cường độ cao. Còn tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, trước đó, 2-2-1973, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật đã phổ biến cho các sỹ quan thuộc quyền trong cuộc họp kín tại Cần Thơ: “Trên hoà bình, dưới chiến tranh; ngoài hoà hợp, trong bình định” và đề ra chỉ tiêu đến ngày 26-3-1973 phải khôi phục lại những vùng đất, vùng dân đã mất sau ngày 26-1-1973. Cùng lúc, chính quyền Sài Gòn công khai ban hành luật phát xít như: xử bắn những ai công khai hoan hô hoà bình, xử bắn lính bỏ trốn, bỏ tù các gia đình có con đi lính bỏ trốn, cấm tụ tập bàn tán hoà bình, cấm đi lại vùng giải phóng ... Rồi chúng ráo riết thực hiện kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, cắm cờ, giành đất, giành dân trong 48 giờ trước khi Hiệp định có hiệu lực, đồng thời đẩy mạnh bình định lấn chiếm theo kế hoạch của Nguyễn Vĩnh Nghi soạn thảo và Nguyễn Văn Thiệu đã phê duyệt.

Tôi nhớ lúc đó có ông già ở Hỏa Lựu đến tìm gặp tôi; ông và gia đình, bà con đã từng chịu đựng bao cay đắng tủi nhục từ thời Diệm-Nhu dồn dân lập khu tập trung Vị Thanh - Hỏa Lựu; khi gặp tôi ông ta nói: “Các chú không đánh thì nó không bao giờ chịu thi hành Hiệp định đâu. Chừ các chú đánh đồn bót nào, tui sẽ dẫn đường cho các chú!”.

Âm mưu của đối phương đã rõ. Lòng dân như vậy cũng đã rõ. Tôi chiêm nghiệm một điều là, trong đấu tranh cách mạng, đánh giá đúng tình hình địch-ta là yếu tố quyết định đề ra đường lối chủ trương phù hợp. Khi Hiệp định Paris được ký kết, thi hành hiệp định thì có phía ta và cả phía Mỹ - chính quyền Sài Gòn. Ta muốn thi hành, địch không chịu thi hành; ta phải đấu tranh bắt buộc chúng thi hành. Nhưng lúc này phải tính coi ta có thể bắt buộc chúng thi hành được không? Kinh nghiệm xương máu khi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Mỹ-Diệm đã tuyên bố dứt khoát không thừa nhận Hiệp định, và chúng đã dùng súng đạn để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng của nhân dân ta, tàn sát thẳng tay những người cách mạng; nhưng ta vẫn dùng đấu tranh chính trị, tay không đòi thi hành hiệp định, và ta đã bị tổn thất rất lớn, tình hình này kéo dài suốt sáu năm trời. Đây là giai đoạn, là nỗi đau nhất của cách mạng miền Nam. Vì vậy tôi đề xuất ý kiến và Khu ủy đã hoàn toàn nhất trí chủ trương phải phát huy thắng lợi của Hiệp định Paris, nhưng phải thấy rõ âm mưu của kẻ thù, phải kiên quyết tiến công, dùng sức mạnh chính trị, quân sự và pháp lý để trừng trị quân địch vi phạm Hiệp định. Nếu chúng ngoan cố không thi hành thì phải tiêu diệt chúng. Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, một mặt điện xin ý kiến của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Trung ương Cục, về mặt quân sự xin ý kiến của Bộ Chỉ huy Miền; một mặt quyết tâm đưa phong trào tiến công và phản công trừng trị quân địch vi phạm Hiệp định Paris, trước mắt đẩy lùi và làm thất bại kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm và bình định Chương Thiện của đối phương. Ta đã biết rõ đối phương, nay phải đề cao cảnh giác, kiên quyết không để mất đất, mất dân; đẩy mạnh binh vận làm tan rã đối phương; vừa tuyên truyền thắng lợi Hiệp định, vừa củng cố và phát triển lực lượng, sẵn sàng đánh trả trong khuôn khổ Hiệp định cho phép nếu địch tấn công. Phải luôn luôn chủ động đánh để bảo vệ Hiệp định. Chủ trương, nghị quyết này đã được phổ biến cho các tỉnh và các ngành trong toàn quân khu.

Tháng 10-1972, sau khi thống nhất với Bí thư Khu uỷ Võ Văn Kiệt và Thường vụ Khu ủy, với cương vị Tư lệnh Quân khu, tôi quyết định điều chỉnh lại bố trí lực lượng, tập trung 4 trung đoàn chủ lực về địa bàn Chương Thiện. Cụ thể: Trung đoàn 1 (lúc này anh Phạm Văn Trà làm Trung đoàn trưởng) ở đông bắc Long Mỹ, cụ thể là Phụng Hiệp, tại kinh Lái Hiếu, Trung đoàn 10 (do anh Tư Đông chỉ huy) ở tây nam Long Mỹ, Trung đoàn 20 (do anh Sáu Lược làm Trung đoàn trưởng) ở tây Vị Thanh, Trung đoàn 2 (do anh Năm Thông làm Trung đoàn trưởng) cơ động vùng cửa ngõ U Minh; còn Trung đoàn 3 vẫn đảm nhiệm địa bàn Vĩnh-Trà. Quy định mỗi trung đoàn phụ trách từng địa bàn then chốt, nhưng khi cần thiết thì có thể tập trung 2 đến 3 trung đoàn tiến công trên một hướng. Sở chỉ huy Quân khu ở khu vực tây nam Long Mỹ (cơ động trong 3 xã Lương Tâm, Vĩnh Viễn, Xà Phiên) ngay sát đồn bốt địch. Mỗi trung đoàn đảm nhiệm một vùng địa bàn then chốt quy định, nhưng khi cần thiết thì có thể tập trung từ 2 đến 3 trung đoàn tiến công trên một hướng. Phương thức tác chiến là: Tích cực đánh quân địch ngoài công sự vững chắc, đánh đồn địch mới đóng, đánh tàu đối phương cơ động trên sông, săn lùng xe cơ giới đối phương ban đêm, đánh đối phương với lực lượng tổng hợp nhỏ lẻ, khi có điều kiện thì đánh tập trung tiêu diệt từng tiểu đoàn của đối phương.

Khi ta đang tiến hành điều chỉnh đội hình thì ngày 11 tháng 1 năm 1973, quân đội Sài Gòn cho Sư đoàn 21 hành quân lấn chiếm vùng tây nam Long Mỹ. Ta vừa tiếp tục điều chỉnh đội hình chiến đấu vừa dùng phân đội nhỏ, trước mắt là Trung đoàn 20 đánh vào sau lưng đối phương, đồng thời chuẩn bị phương án thời cơ. Ngày 19-1-1973, Trung đoàn 20 tiêu diệt Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 31 của Quân đội Sài Gòn ở Ba Voi xã Vĩnh Hoà Hưng Bắc (phía tây Vị Thanh), buộc Sư đoàn 21 phải quay về phòng thủ thị xã Vị Thanh.

Ngày 21-1-1973, Quân đoàn 4-Quân khu 4 của quân đội Sài Gòn tiếp tục nống ra thực hiện kế hoạch tràn ngập lãnh thổ, hành quân lấn chiếm trên diện rộng khắp đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 23-1-1973, Quân khu 9 tiến hành "phương án thời cơ", đối phương cho rằng ta mở đợt tiến công lớn nên ngày 25-1-1973, Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn 4-Quân khu 4 ra lệnh chấm dứt hành quân, rút quân chủ lực về phòng thủ các thị xã, thị trấn và các trục giao thông.

Ngày 26-1-1973, Quân khu 8 bước vào cao điểm thời cơ. Cùng lúc, trên các hướng của đồng bằng sông Cửu Long đồng loạt tiến công và giành thắng lợi lớn: Giải phóng được nhiều ấp, xã, nhân dân nổi dậy phá thế kìm kẹp, bung về ruộng vườn cũ, làm cho quân đối phương hoang mang, đào rã ngũ khá nhiều. Lực lượng cách mạng đã làm chủ được diện rộng, đẩy quân đối phương vào trong hàng rào đồn bốt khi Hiệp định Paris có hiệu lực.

Như vậy, thắng lợi lớn nhất của ta trong những đợt tiến công cách mạng vừa qua là ta đã đứng vững chắc trên vùng trọng điểm, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, tạo thế vững chắc để tiến công quân đối phương trong tình hình mới.

Ngày 28 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris có hiệu lực. Theo quy định thì hai bên phải ngừng bắn tại chỗ, nhưng thực tế chiến tranh vẫn tiếp diễn trên khắp đồng bằng sông Cửu Long. Quân đoàn 4- Quân khu 4 quân đội SG tiếp tục nổ súng tiến công lấn chiếm, tiếp tục kế hoạch tàn ngập lãnh thổ, tăng cường phản kích với mức độ đánh phá, càn quét ác liệt hơn trước. Tại vùng trọng điểm Chương Thiện, đối phương tổ chức phản kích quyết liệt ở tây Vị Thanh và đông bắc Long Mỹ.

Giữa tháng 3-1973, đối phương mở cuộc hành quân cấp quân đoàn với lực lượng 30 tiểu đoàn, gồm 2 trung đoàn của Sư đoàn 21, 1 trung đoàn của Sư đoàn 9, Trung đoàn 9 thiết giáp với 52 xe M113, 4 tiểu đoàn pháo, 2 giang đoàn và một số tiểu đoàn bảo an; tổ chức đội hình thành nhiều cánh, đồng loạt đánh vào tây nam Long Mỹ. Nhưng đối phương vấp phải các đơn vị của ta đã bố trí triển khai đánh đối phương từ xa đến gần, thực hiện chia cắt từng cánh quân…

Bộ đội ta thực hiện áp sát các chi khu Long Mỹ, Ngang Dừa, Giồng Riềng làm công tác binh vận phân hoá quân chủ lực và bảo an quân đội Sài Gòn. Các chị, các mẹ dùng xuồng ba lá chèo vào đồn bốt kêu gọi binh lính bỏ ngũ. Nhiều má vừa nhủ vừa chất vấn “Hoà bình rồi, tụi bay lại đánh nhau là sao? Bộ không thích về đoàn tụ với vợ con ba má sao?...” và khi lính rã ngũ thì các má các chị chở họ trở về quê, liên tục, liên tục; mỗi ngày ta đã làm rã ngũ hàng trăm binh lính; ta đã đưa được 14 ngàn dân từ ấp chiến lược trở về quê cũ.

Đánh đến ngày 20 tháng 4 thì các cánh quân của đối phương bị chặn đứng. Cuối tháng 4-1973, đối phương điều thêm lực lượng bảo an vào Chương Thiện, đưa tổng quân số lên tương đương 46 tiểu đoàn để tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định, lấn chiếm.

Song, khi chúng tôi đang tổ chức đánh đối phương bình định lấn chiếm “tràn ngập lãnh thổ” thì Trung ương Cục có chỉ thị 02 với phương châm “Kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị, võ trang và pháp lý, lấy đấu tranh chính trị là cơ sở, đấu tranh võ trang là hậu thuẫn ...” và chỉ thị rút một phần (cụ thể là rút 2 trung đoàn) về căn cứ U Minh để chỉnh huấn. Trung ương Cục còn hai lần điện yêu cầu T3 (mật danh Quân khu 9 lúc đó) phải thấy tình hình mới, phải có biện pháp mới (điện số 05 và 07), còn Bộ chỉ huy Miền thì điện phê bình T3 không thi hành chủ trương của Trung ương Cục và thông báo cho toàn miền. Lúc đó dư luận chung cho rằng Tây Nam Bộ chúng tôi “xé Hiệp định Paris”.

Cuối tháng 5-1973, trên Miền có Hội nghị tổng kết công tác đấu tranh chính trị và binh vận. Đoàn cán bộ tổng kết của Trung ương và Trung ương Cục lên tiếng phê phán Khu 9 làm sai đường lối của trên và nhắc nhở các nơi phải thực hiện "5 cấm" (Cấm bao vây đồn bốt, cấm gỡ đồn bốt, cấm đánh địch bung ra, cấm pháo kích và cấm xây dựng ấp, xã chiến đấu). Cùng thời gian đó, đoàn đại biểu binh vận và thanh niên của T3 đi R (Miền) dự hội nghị, tiếp thu chủ trương của trên, Trung ương Cục cho phép về thẳng cơ sở phổ biến không cần thông qua Thường vụ Khu ủy, cho rằng hiện nay lấy đấu tranh chính trị, binh vận làm gốc, nơi nào tấn công quân sự là sai lầm. Nhiều người còn nói một cách hình ảnh ví von như: về chính trị thì “xanh vỏ, đỏ lòng”, đối với lực lượng võ trang thì “gò cương, vỗ béo” v.v... Còn anh Trung, Khu ủy viên phụ trách công tác binh vận vừa đi họp trên Miền về thì nói với tôi: “Trên R có người đề nghị đưa anh ra tòa vì anh không chấp hành Hiệp định, phá hoại Hiệp định!” Tôi bảo: "Được, anh yên tâm đi! Nhưng anh không được nói với ai chuyện này. Tôi phải đánh đã. Nếu thua thì tôi ra toà luôn một thể. Chủ trương này tất cả Khu ủy đã nhất trí, anh cũng phải chấp hành cái đã! Tôi biết, trên yêu cầu thì anh phải về nói, chứ thực chất anh là người chiến đấu kiên cường".

Bước 2 của đối phương từ tháng 6 đến tháng 10-1973, chúng tiếp tục thực hiện mục tiêu của bước 1, vì đợt 1 họ chưa thực hiện được việc bình định lấn chiếm Chương Thiện để cô lập cho được U Minh. Đối phương cay cú tập trung lực lượng đến 75 tiểu đoàn (gồm 2 sư đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 2 thiết đoàn, 6 đến 8 giang đoàn và lực lượng bảo an của các tỉnh thuộc vùng 4 chiến thuật). Cách đánh của họ là dùng bom, pháo ác liệt để dọn bãi cho trực thăng đổ cấp tập hàng nghìn quân xuống một lúc, càn quét cày ủi địa hình, kìm giữ dân, tiến hành đóng đồn bốt, kết hợp với các điểm dã ngoại, lấy đó làm điểm, bàn đạp để loang dần ra với sự yểm trợ tối đa về bom đạn, chất độc hoá học từ máy bay, pháo cối từ các trận địa và các tàu chiến trên sông. Nói không mấy ai tin nhưng thực tế nó là như vậy. Lúc đó tôi nói: "Bom đạn ác liệt thế này, chết là chuyện thường, sống mới là kỳ"! Về sau anh em cứ nhắc lại mãi câu này của tôi. Anh em đã dùng chiến thuật vận động là chủ yếu để đánh địch kết hợp với quần chúng, các má các chị làm binh vận, kêu gọi quân lính rã ngũ. Nhìn chung là như vậy nhưng không phải trong tư tưởng bộ đội lúc nào cũng hăng hái, công tác tư tưởng cũng luôn thuận lợi một chiều. Khi nghe phổ biến ý kiến phê phán của cấp trên “Khu 9 phá hiệp định, không chấp hành lệnh trên” thì một số người cũng có “lượng xượng”, muốn lui vào hậu cứ nghỉ xả hơi chút đỉnh sau những ngày đã quá căng thẳng, ác liệt.

Lúc đó tôi nói thẳng với anh em - Hiệp định đã ký kết, nhưng ở Khu 9 chưa hề có hoà bình! Qua tài liệu của đối phương và qua hành động của chúng đã thấy rõ nó vạch ra và triển khai chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” rất bài bản, rất quyết liệt. Nếu ta xả hơi, co lại, thủ tiêu đấu tranh là chết. Thực trạng suốt bảy, tám tháng vừa qua đã thấy rất rõ điều này. Cuộc giành giật giữa ta và đối phương diễn ra rất ác liệt. Đối phương bình định kềm dân, ta trừng trị đối phương, phá bình định, giải phóng dân. Đối phương đóng đồn, ta nhổ. Đối phương lấn chiếm, tái chiếm, ta mở rộng, mở vùng. Nơi nào ta đánh mạnh, đối phương dao động, co lại; nơi nào ta hữu khuynh, chần chờ, đối phương lập tức lấn tới. Ngay cả những đơn vị sừng sỏ của chúng bị ta đánh mạnh về quân sự, bị bao vây về chính trị và binh vận thì cũng dao động, chùn lại thấy rõ. Tôi còn nhớ: Chỉ tính riêng tháng 5-1973 đã có 130 lính đối phương ở khu trọng điểm Chương Thiện đào rã ngũ. Các gia đình có con em đi lính cho chế độ cũ thì có phong trào thi đua vận động con em trở về để xóa “gia đình binh sỹ”. Nhiều chị em đi chợ Long Mỹ, Vị Thanh, Hỏa Lựu đã vận động và chở binh lính ra thẳng vùng giải phóng. Trong đó điển hình có chị ở Long Mỹ và một chị ở Hoà An (Phụng Hiệp) vận động và lần lượt chở được 24 binh lính bỏ ngũ. Binh lính ở nhiều đồn bốt dao động đã ra thanh minh với đồng bào “Cấp trên bắt buộc chúng tôi phải đóng đồn” và hứa sẽ không gây khó khăn cho đồng bào trong sinh hoạt. Trung đoàn 31 QĐSG đã xảy ra 4 vụ binh biến khởi nghĩa cấp trung đội thắng lợi. Sư đoàn 21 có 6 lần tiểu đoàn chống lệnh hành quân tiếp viện (Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 31 chống giải toả Giồng Cấm, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 31 chống giải toả Cái Nứa, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 32 chống tiếp viện Tân Lộc…) Chỉ tính riêng tháng 5-1973 đã có 21 cuộc, gồm 6 tiểu đoàn, 11 đại đội, 9 trung đội bộ binh và 1 chi đoàn xe bọc thép M113 chống lệnh hành quân phá hoại Hiệp định...

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh

Lực lượng vũ trang ba thứ quân trên địa bàn quân khu đơn vị nào cũng kiên cường và đánh giỏi, nhưng điển hình nhất là Trung đoàn 1 do đồng chí Phạm Văn Trà chỉ huy. Trong suốt ba tháng trời, một nghìn quân của trung đoàn đã cùng với lực lượng tại chỗ của địa phương quần nhau với hơn một vạn quân của đối phương trong phạm vi 20 km với những trận đánh diễn ra vô cùng ác liệt, giành giật nhau từng khu vực, từng đoạn sông. Lúc đó, đồng chí Sáu Bé, Bí thư chi bộ xã Phương Phú đã ngày đêm có mặt ở sở chỉ huy của trung đoàn để cùng Ban chỉ huy trung đoàn lãnh đạo và tổ chức lực lượng ba thứ quân, thực hiện tiến công quân đối phương trên cả ba mũi-quân sự, chính trị và binh vận nên đã giành thắng lợi rất vẻ vang. Đồng chí Phạm Văn Trà sau đó được phong Anh hùng LLVTND, hiện nay là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng. Pháo binh của Quân khu lúc đó do đồng chí Tư Niên chỉ huy cũng đánh rất giỏi, anh em đã đánh được cả tàu đối phương trên sông, đánh được cả căn cứ, đồn bốt của đối phương và còn tổ chức phục kích, tập kích bộ binh đối phương khi chúng hành quân dã ngoại. Còn bên Chính trị có đồng chí Sáu Hoài, Chủ nhiệm Chính trị, Đoàn Cẩm Thính và Bảy Sanh, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu không chỉ giỏi công tác chính trị mà còn giỏi tổ chức cơ quan bám trụ và đánh đối phương. Trong hoàn cảnh bảo đảm hậu cần rất khó khăn, nhưng ngành Hậu cần Quân khu đã rất sáng tạo, dũng cảm kiên cường và trách nhiệm, đã giải quyết tốt mọi việc- từ tiếp nhận, vận chuyển hàng hoá từ miền Bắc đưa vào, đến việc thu mua và khai thác nguồn hậu cần tại chỗ kể cả việc tổ chức tăng gia sản xuất lương thực thực phẩm, quân trang quân dụng, phương tiện và thuốc men quân y, vũ khí quân giới... mà đứng đầu ngành là các đồng chí: Hai Nhường, Năm Đởm, Bảy Lúa, Ba Lò Rèn v.v..

Đến 30 tháng 8, tức là hết thời hạn đợt 2 của đối phương, họ vẫn không hoàn thành được việc chiếm Chương Thiện, chưa đánh phá được U Minh. Cục diện chiến trường chưa hề thay đổi theo ý đồ của họ. Vùng giải phóng căn cứ U Minh của ta vẫn ổn định. Lúc này cũng là thời điểm đã có và triển khai văn bản Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng (tháng 7 thì các nơi được phổ biến), các quân khu bạn được lệnh phản công. Tình thế mới của Quân khu 9 xuất hiện, đối phương yếu đi nhiều, ta tấn công liên tục, không còn tình cảnh bị động đối phó như trước. Bộ đội chủ lực của Quân khu kết hợp chặt chẽ với bộ đội các tỉnh và mũi chính trị binh vận của quần chúng liên tục tiến công đối phương. Phương thức đánh phá bình định đã hình thành là: ở, giữ, mở, thọc sâu làm đối phương thêm bị động, lần lượt mất dần đồn bốt, quân số hao hụt, bắt lính khó khăn, rã ngũ ngày càng nhiều. Nhìn tổng quát thấy rõ thế và lực ta đang phát triển tiến lên, thế và lực đối phương đang đi xuống, khả năng bổ sung rất khó khăn. Sau 8 tháng kể từ ngày có Hiệp định Paris, đến đây, riêng trên địa bàn Khu 9, kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” của quân đội và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cơ bản đã phá sản. (1)

Lúc này, Khu 9 nhận được điện của Trung ương gọi ra báo cáo. Sự thực là, sau khi Trung ương có Nghị quyết 21, Bộ Chính trị cử các anh Tố Hữu, Đinh Đức Thiện, Nguyễn Thọ Chân vào miền Nam truyền đạt nghị quyết. Nhưng anh Lê Duẩn còn băn khoăn một điều là nghị quyết như vậy đã sát với tình hình thực tế chiến trường hay chưa, nên đã gọi đại diện lãnh đạo các quân khu phía Nam ra để nghe trực tiếp các cán bộ quân khu báo cáo. Quân khu 9 đã cử anh Kiệt đi. Sau đó anh Lê Duẩn gọi tôi ra báo cáo. Còn trên Miền thì vẫn có lệnh là rút chủ lực lui về vùng căn cứ U Minh. Khi Tham mưu trưởng Tư Chức trình báo, tôi nói anh Tư Chức- "Anh điện báo cáo Miền cho ở lại, không lui gì hết. Lui là mất dân mất đất. Bức điện này sai quy tắc quân sự, điện của Tư lệnh mà ký tên Năm Ngà, cuối bức điện không thấy ghi rõ chức vụ gì cả. Hơn nữa không phù hợp với Hiệp định Paris, không phù hợp với thực tiễn diễn biến hiện nay; nên cứ để yên, không phổ biến chỉ thị này cho bất cứ ai. Còn anh cứ chấp hành tôi đi, vì Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh đã quyết.”…Tôi tiếp tục chỉ huy đánh đối phương. Một thời gian sau, khi có điện ngoài Trung ương gọi ra báo cáo thì tôi mới đi thẳng ra miền Bắc. Mãi sau này tôi mới biết, cũng chính lúc đó, ở trên R có người đề nghị Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền kêu tôi về Miền để thi hành kỷ luật vì "vi phạm Hiệp định, làm trái ý trên".

Trước lúc đi, tôi dặn các anh ở nhà quyết không có lui mà chỉ có tiến lên. Trung đoàn 1 phải tấn lên quốc lộ 1 rồi đánh lên; Trung đoàn 20 cũng vậy, các đơn vị kia cũng vậy, cứ nhằm Ô Môn tiến lên.

Lúc ra đi thì giữ bí mật tuyệt đối, tàu vào rạch đón rồi lặng lẽ đi luôn. Anh Võ Văn Kiệt thì giao lại công việc cho anh Tư Bình tức Vũ Đình Liệu; tôi đi thì giao lại chỉ huy Quân khu cho anh Lê Ngọc Hưng. Hai người đi hai thời điểm cách nhau một thời gian nhưng đều đi rất bí mật. Cuộc đi của anh Kiệt khá thuận lợi, anh Kiệt đi bằng đường bộ mất 14 ngày, còn cuộc đi của tôi thì có gian nan trục trặc. Trước đó, vì những con tàu vỏ thép của đoàn tàu Không số đã bị đối phương phát hiện, chúng săn và đánh dữ dội, ta tổn thất nhiều; bởi vậy lần này các đồng chí đưa tôi đi vượt biển nhưng đi bằng hai tàu đánh cá bằng gỗ loại nhỏ đã cũ. Chiếc tôi ngồi là tàu số 59 thuộc Đoàn 371 QK9 do đồng chí Nguyễn Văn Bảy làm trưởng tàu, Nguyễn Hồng Nghi làm thông tin báo vụ, đồng chí Kỷ là thợ máy tàu; mỗi cái chở 5 người, do đồng chí Tư Mâu chỉ huy chung. Đồng chí Tư Mâu là người chuyên tổ chức vận chuyển vũ khí từ Bắc bằng tàu "đánh cá" vào Nam, sau này được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; khi chuyển ra ngoài thì làm Thứ trưởng Bộ Hải sản. Ngày 24-11-1973 thì lặng lẽ nhổ neo. Đi được một chặng thì vì gió to, nước tràn vô, bị thủng và chìm mất một chiếc, phải dồn tất cả người lên chiếc tàu còn lại. Khi ra đến ngang Vũng Tàu thì quyết định xông vô bờ để cho bớt người lên ở lại, không thì rất nguy hiểm. Nhưng đến đây lại xảy ra một chuyện phức tạp là có một thằng đào ngũ, tối đến không thấy nó về, mọi người rất sốt ruột trong khi gió vẫn rất to. Lúc đó tôi quyết định cứ nhổ neo và đi. Ra ngoài khơi gió càng dữ đã thổi dạt tàu đi đến đảo Hải Nam. Sau đó các đồng chí Hải quân Trung Quốc báo cho Hải quân ta sang đón và đưa về cảng Hải Phòng. Đồng chí Nguyễn Bá Phát, Tư lệnh Hải quân (người quê gốc Khu 5) mừng lắm. Như vậy chúng tôi đã đi mất 7 ngày đêm.

Sau 7 ngày đêm mạo hiểm vượt biển Đông từ Nam ra Bắc, về đến Hà Nội, tôi về nghỉ ở nhà số 91 Lý Nam Đế. Mấy ông bên Tổng cục Chính trị và Cục Cán bộ có biết và ra thăm tôi. Tôi cũng chưa kịp đi kiểm tra sức khoẻ dù cảm thấy trong người mình có khá nhiều chỗ ọp ẹp sau những ngày tháng gian nan và khốc liệt ở vùng sông nước Chương Thiện, Cần Thơ. Anh Văn Tiến Dũng ra gặp, câu đầu tiên anh hỏi “Có mệt không?”, tôi đáp: "Cũng mệt"! Anh nói: "Cậu như voi một ngà". Tôi bảo, tôi cũng chỉ còn một mắt bảy phần mười. Anh bảo tôi: “Về sức khoẻ thì cậu cố gắng thêm. Còn về công việc thì cứ yên tâm, không riêng gì Khu 9 mà cả Khu 8, Khu 7, Khu 6 nữa, cứ yên tâm về làm cho chắc. Anh trở về nắm tình hình và bàn với các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà để triển khai công việc. “Công việc” thì các anh đó biết cả rồi. Có thể anh Hùng và anh Trà sắp tới cũng ra họp...”

Lúc bấy giờ bên Trung ương có làm bữa cơm, mời tôi sang. Khi ăn có ba người là các anh Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ. Lúc ăn không hề nói chuyện gì cả. Ăn xong tôi nói với anh Thọ là giờ có kỷ luật gì tôi thì anh đưa quyết định để tôi chấp hành và xin đi chữa bệnh. Anh Thọ nói “Giờ thì cậu trở về ngay Miền!”. Chỉ có anh Duẩn gặp riêng và nói rằng: “Về nói với anh Hùng, anh Trà, bàn trong nội bộ phải giải phóng nhanh nhất. Nếu để chậm thì quân đội Sài Gòn lại hồn, củng cố lại thì sẽ rất khó”. Anh nói hai ba lần “Nó lại hồn” và “Rất khó”. Anh nói tôi sang báo cáo tình hình với Chủ tịch Tôn Đức Thắng, rồi nói thêm: “Có thể cuối năm này mấy anh sẽ ra họp. Nói các anh bàn bạc thu xếp để cuối năm ra họp”. Tôi sang chào Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Bác Tôn bắt tay tôi mà nói tha thiết: "Các chú giải phóng nhanh miền Nam để Bác được về thăm quê và thăm lại Ba Son, nơi bác xây dựng chi bộ Cộng sản đầu tiên!". Lúc đó trong Miền, anh Phạm Hùng làm Bí thư Trung ương Cục, anh Trần Văn Trà làm Tư lệnh Bộ chỉ huy Miền. Tôi bảo cho tôi vào bằng đường Trường Sơn Đông, không đi Trường Sơn Tây; anh Hoàng Thế Thiện bảo muốn vậy phải gặp anh Đồng Sỹ Nguyên. Hôm sắp trở vào Nam, gặp anh Hoàng Văn Thái gặp và bảo tôi: “Cậu nói giúp làm sao để các ông cho mình trở vào Miền”. Tôi bảo: "Chuyện của anh phải Bộ Chính trị quyết định, tôi nói làm sao được". Trước khi lên đường trở về Nam, tôi đến chào ông Nguyễn Hữu Thọ, ông Thọ mời tôi ăn cơm. Sau đó anh Thái, rồi anh Võ Nguyên Giáp kêu tôi đến ăn cơm. Tôi lần lượt đến với hai anh, rất vui vẻ và thoải mái.

Vào đến nam Vĩnh Linh, gặp anh Trần Độ đi từ Miền ra, tôi hỏi: "Anh ra thì ai thay"? Anh lặng im không nói gì. Rồi anh nói: "Sau khi có Hiệp định Paris, tình hình phức tạp quá. Khi anh Tố Hữu vào phổ biến thì tin ở Trung ương". Tôi bảo, tin ở Trung ương là đúng thôi, nhưng phải phản ánh đúng thực tế chiến trường với Trung ương, và phải kết hợp hai vấn đề đó lại. Anh bảo giờ anh ra Bắc, tôi cũng không hỏi vì sao ra. Anh em giao liên đưa tôi đi, vào đến sát đồn Phú Túc của đối phương rồi cứ theo sườn núi mà đi. Đi, tôi thấy đường Trường Sơn Đông đã mở thông thoáng, từng đoàn xe tải chở gạo, chở đạn vào chiến trường thì trong lòng phấn khởi lắm. Vào tới Miền, tôi không thấy ai nhắc chuyện “ra toà”.

Theo lời dặn của anh Lê Duẩn và anh Văn Tiến Dũng, tôi gặp và báo cáo với hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà, chỉ hai anh thôi. Anh Trà bảo tôi: “Căn cứ vào việc nắm tình hình xong thì cậu làm kế hoạch đi. Sau khi Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Miền có ý kiến là triển khai luôn”. Anh Hùng cũng bảo tôi: “Làm sớm đi!”. Vào tới Bộ chỉ huy Miền được ít ngày thì trong này nhận được thông báo quyết định của Trung ương phong cấp hàm cho tôi từ Sư đoàn bậc trưởng (tương đương Đại tá) lên Trung tướng (2). Cùng phong vượt cấp lần này có cả anh Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội 559. Ý của anh Trần Văn Trà là tôi làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Miền. Tôi bảo không nên, cứ để anh Năm Ngà (Nguyễn Minh Châu) làm Tham mưu trưởng. Tôi kiêm cũng được, nhưng không cần thiết phải thế. Và ý kiến của tôi được các anh chấp thuận. Lúc này anh Hai Tưởng, tức Lê Văn Tưởng đã thay vị trí của anh Trần Độ làm Phó Chính ủy Bộ chỉ huy Miền.

Khi làm kế hoạch tác chiến, tôi có bàn với hai anh Năm Ngà và Hai Tưởng. Kế hoạch có 3 nội dung:

Thứ nhất: Là xây dựng lực lượng ở các đô thị và vùng ven đô. Vì sau Mậu Thân 1968, lực lượng ta (cả đặc công và biệt động) đã bật ra hết rồi, giờ phải triển khai xây dựng trở lại để ém quân ở đô thị, hoạt động trong lòng đô thị. Tôi nhớ đinh ninh lời anh Lê Duẩn “Để chậm thì khó làm được”.

Thứ hai: Mở vùng giải phóng ra hướng Long An, kể cả vùng nam của Long An: Cần Giuộc, Cần Đước, Gò Công, Châu Thành, Tân Trụ, Chợ Gạo và Tiền Giang, tức là cả phía nam và phía bắc lộ 4. Kể từ Tây Ninh xuống Đức Hoà, Đức Huệ, nam bắc lộ 4 thì khó nhất là mở hướng này. Nếu nói đến đồng bằng sông Cửu Long thì đây là hướng trọng điểm của kế hoạch đồng bằng. Ta mở vùng và đứng vững được ở đây thì sẽ ngăn chặn rất hiệu quả sự liên thông của đối phương từ Sài Gòn xuống miền Tây. Ngược lại, với ta sẽ nối liên thông từ Miền tức Chiến khu Dương Minh Châu, nối miền Đông với đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ ba: Mở rộng đường hành lang Trường Sơn. Vì Trung ương đã mở được thông đường Đông Trường Sơn rồi, nay ta phải mở thông nốt, nối liền từ miền Đông Nam Bộ tới đó, trọng điểm là hai trục đường 14 và 20. Còn hướng sông Lòng Tàu thì Đoàn 10 đã làm dữ và khá lắm, vả lại lúc đó hướng này chưa nổi cộm lên nên không đặt vấn đề là hướng chính.

Các đơn vị chủ lực của Miền bắt đầu huấn luyện và hoạt động tác chiến theo hướng mới, kế hoạch mới. Nhưng thực trạng lúc này, bộ đội đánh tập kích thì được nhưng đánh công kiên thì chưa ổn mà điển hình là trận đánh đồn Rạch Bắp nằm trên lộ 7. Ta dùng một trung đoàn bộ binh, có xe tăng và lựu pháo nhưng đánh hai ngày liền mà không dứt điểm được đồn. Tôi đề nghị với anh Trà là cho bộ đội tập huấn lại. Nếu cứ đánh kiểu đội hình “đầu nhọn đuôi dài, bộc phá liên tục” để mở cửa mở đối với sự phòng thủ của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn thì e không được, mà có được cũng thương vong lớn, hoặc tiến công theo đội hình xe tăng đi trước dẫn bộ binh theo sau, trong khi hoả lực nói chung, hoả lực chống tăng nói riêng của đối phương rất mạnh thì không thành công. Kế đó, tôi mời hai anh Bùi Cát Vũ và Lương Văn Nho đến, hôm đó có cả anh Năm Ngà, Tham mưu trưởng Miền và anh Hoàng Cầm, cả hai anh đều nhất trí. Tôi bảo, bây giờ ta hãy tập huấn cho bộ đội cách đánh cùng một lúc tiến hành mở hai cửa mở. Một cửa mở bằng lối dùng đặc công bí mật luồn sâu gỡ cắt hàng rào, một cửa dùng pháo binh bắn chế áp lô cốt và hoả điểm của đối phương rồi dùng bộc phá phá hàng rào, pháo binh bắn yểm trợ cho bộ đội xung phong; hướng là tiêu diệt chi khu quân sự của chúng và lấy chi khu Đồng Xoài làm ví dụ thực tế. Hai anh đã về xây dựng sa bàn trên thực địa với đầy đủ chi tiết và tập huấn cho cán bộ ở cả ba cấp: đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn. Cuộc tập huấn kỹ càng suốt mấy tháng trời tại Cánh đồng Pan trong chiến khu Dương Minh Châu. Lúc bấy giờ chủ lực của Miền thành lập “Bộ chỉ huy 351”, sau đó mới đổi là Quân đoàn 4. Cụ thể, ngày 20-7-1974 tại căn cứ Dương Minh Châu, anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục công bố quyết định thành lập; biên chế Quân đoàn 4 gồm: 2 sư đoàn bộ binh (7 và 9), Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn phòng không 71, Tiểu đoàn đặc công 429, Trung đoàn thông tin 69 và các cơ quan, đơn vị phục vụ, bảo đảm. Lúc đầu cử anh Hoàng Cầm làm Tư lệnh kiêm Chính uỷ. Sau này anh Hoàng Cầm làm Tư lệnh, anh Lê Chân tức Hai Tưởng làm Chính ủy, anh Bùi Cát Vũ làm Phó tư lệnh, còn Tham mưu trưởng là anh Hoàng Nghĩa Khánh.

Khi bắt đầu triển khai kế hoạch tác chiến mùa khô thì Bộ chỉ huy Miền có tôi, các anh Năm Ngà, Hai Tưởng và Hoàng Cầm ở nhà vì hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà ra Trung ương họp.

Trong Bộ chỉ huy Miền phân công tôi, anh Hoàng Cầm và anh Bùi Cát Vũ lo mở hướng hành lang, còn Tham mưu trưởng Năm Ngà thì lo hướng đường 20. Triển khai xong việc này thì chuyển sang hướng Long An. Còn một vị trí, một hướng vô cùng quan trọng là núi Bà Đen. Lực lượng giải quyết ở hướng này thì lấy Trinh sát và lực lượng của Bộ tham mưu Miền (gồm một số đơn vị trực thuộc) cộng với lực lượng dân quân du kích địa phương, do anh Trần Ngọc Danh tức Ba Trần, Tham mưu phó chỉ huy.

Đánh bật quân đối phương ở núi Bà Đen khó lắm, vì mình ở dưới, nó ở trên cao. Ai chiếm được vị trí này là quan sát và khống chế được cả một vùng. Bởi vậy mình biết rõ, nếu bị mất núi Bà Đen thì đối phương còn nguy hơn cả mất Bình Long và Phước Long. Núi Bà Đen là điểm cao thuộc tỉnh Tây Ninh, đứng giữa bên này là Long An-Đồng Tháp Mười, bên kia Phước Long, tầm quan sát tới tận Sài Gòn và bao quát tới sông Tiền thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Quân ta thực hiện vừa nghi binh vừa đánh. Khi ta bao vây núi Bà Đen, tiến đánh các đồn bốt và phá ấp chiến lược xung quanh thị xã Tây Ninh thì quân đối phương ở đây bỏ chạy. Lập tức phần lớn lực lượng của Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn đang đứng chân từ Củ Chi tới Gò Vấp kéo lên. Như vậy ta đã làm được việc nghi binh thu hút, căng kéo lực lượng chủ lực của họ.

Riêng hướng mở hành lang, vì thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của nó, nên tôi và các anh em cơ quan Tham mưu Bộ chỉ huy Miền vẫn hằng nung nấu ý tưởng này, khi trình ra Hội nghị của Bộ chỉ huy Miền và Hội nghị của Trung ương Cục thì đều đạt được sự nhất trí rất cao. Lúc này tuyến đường đông Trường Sơn cả đường ô tô và đường ống xăng dầu đã mở vào đến bắc Bù Đốp-Lộc Ninh, đã tạo ra một thế mới cho chiến trường. Ta đã khai thác lợi thế tuyệt đối của dãy Trường Sơn. Chủ trương đã vạch ra là “Chủ lực của Miền, của Quân khu 7 và Quân khu 6 phải đánh mở rộng, hoàn chỉnh các vùng căn cứ, chuẩn bị cho các hướng: Bắc, tây bắc, đông và tây Sài Gòn, thực hiện bao vây cô lập và ép Sài Gòn ngày càng chặt. Ngay từ đầu mùa khô phải giải phóng đường 14 từ Đồng Xoài lên giáp Quảng Đức để mở rộng căn cứ của Miền về phía sau, giáp Tây Nguyên và nối liền căn cứ Miền về phía đông Sài Gòn, tạo điều kiện mở đường và dự trữ vật chất, phương tiện kỹ thuật, hậu cần cho hướng này. Muốn giải phóng đường 14 thực hiện ý định nói trên, thì ta phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt là Đồng Xoài. Chúng tôi cũng tiên lượng được rằng, nếu quân ta đạt được mục tiêu này thì tỉnh lỵ Phước Long sẽ lập tức rơi vào trạng huống hoàn toàn bị cô lập; lúc đó ta chỉ cần bao vây lại đó, quân đối phương ở đây sẽ không còn tác dụng gì nữa. Khi có thời cơ và điều kiện thì ta giải phóng luôn toàn tỉnh Phước Long. Đạt được điều này thì không những sẽ làm cho căn cứ hậu phương của ta hoàn chỉnh mà còn tạo ra được một tác động tâm lý và chính trị rất có lợi cho ta ...”

Ngày 13 tháng 11, hai anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà lên đường ra Bắc. Trước khi đi, Trung ương Cục và anh Trà giao cho anh Kiệt thường trực bên Trung ương Cục và giao cho tôi thay vị trí chỉ huy của anh Trà trong những ngày anh đi vắng. Lúc chia tay, anh Trà còn dặn tôi: “Ngoài các điện báo ra Bộ như thường lệ, hãy luôn điện cho tôi mọi việc diễn biến của chiến trường, cả tình hình khó khăn nổi cộm và cả những tin thắng trận". Tôi cũng nói với anh là ra ngoài đó anh ráng trình bày với Trung ương xin thêm lực lượng cho chiến trường B2; vì dù ta đã có Quân đoàn 4 nhưng hiện nó là quân đoàn thiếu và yếu nhất trong các quân đoàn, vậy mà nó đang mang danh là “Chủ lực của chiến trường chủ yếu” thì thật không thể hiểu nổi…

Việc thành lập quân đoàn ở B2 và các sư đoàn chủ lực cơ động cho các quân khu là một sự chuẩn bị lực lượng chủ lực của chiến trường để đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu, tình hình nhiệm vụ và chủ trương của Trung ương Cục và kế hoạch hoạt động tác chiến của Bộ chỉ huy Miền. Nó đã được đông đảo nhân dân và các ngành các cấp ở Nam Bộ đồng tình, nhiệt liệt hoan nghênh, chăm sóc, giúp đỡ xây dựng. Nó cổ vũ quân và dân toàn chiến trường B2 phấn khởi vươn lên giành thắng lợi lớn ở mùa khô trước mắt. Nó cũng chứng tỏ và đánh dấu một thời kỳ phát triển lực lượng lớn chưa bao giờ có của toàn chiến trường B2 không phải chỉ có chủ lực mà cả bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích xã ấp. Cũng không phải chỉ có lực lượng vũ trang được phát triển nhanh chóng trong thời kỳ này, mà cả lực lượng Đảng ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng cũng lớn mạnh vượt bậc, ngay cả ở những cơ sở của ta trong hàng ngũ đối phương, trên cả ba vùng chiến lược.

“Thực túc binh cường” là nguyên tắc sống còn và bảo đảm cho thắng lợi. Ngành Hậu cần của B2 đã có truyền thống và thuật “lót ổ sẵn”, chứ không thể “nước đến chân mới nhảy”. Lót ổ hàng trăm, hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí đạn dược từ trước ở các lõm du kích; các địa bàn mà bộ đội sẽ đến đó hoạt động khi cần; lót ổ thuốc nổ, súng đạn ở vùng ven đô thị, sát sân bay, bến cảng, kho tàng của đối phương, cả trong nội thành gồm các mục tiêu quan trọng để cho lực lượng đặc công và biệt động của ta sử dụng theo kế hoạch nhiệm vụ của trên quy định. Không có quần chúng cách mạng tận tình giúp đỡ, không có lực lượng có tổ chức khéo léo tinh vi với những cán bộ có năng lực và đầy trách nhiệm phụ trách thì không thể nào làm nổi những công việc như vậy.

Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, ngay từ trong mùa mưa, Hậu cần của Miền đã chuyển đến cho các quân khu, kể cả Sài Gòn, trên 3000 tấn vũ khí dạn dược, đã cấp phát đủ cho các đơn vị các cơ số đạn và lương thực cần thiết cho chiến đấu và dự trữ thường xuyên. Đồng thời tích trữ tại các khu vực sẽ diễn ra chiến đấu mùa khô chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ gần 3 vạn tấn vật chất, trong đó có gần 8.000 tấn đạn dược và 1.500 tấn xăng dầu. Điều đáng nói ở đây là Hậu cần B2 đã cố gắng tạo ra lượng vật chất phương tiện tại chỗ tất cả những gì có thể tạo ra được, chỉ yêu cầu trên cung cấp những gì không thể tạo ra tại chỗ. Thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ chỉ huy Miền, ngành Hậu cần đã bảo đảm lượng dự trữ thường xuyên từ bốn đến sáu tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; ba đến sáu tháng xăng dầu, và bắt buộc phải có một năm vũ khí đạn dược. Làm được như vậy ở một chiến trường trọng điểm, xa Trung ương và hậu phương miền Bắc, một chiến trường vô cùng ác liệt là một chiến công rất lớn. Đó là công sức, trí tuệ của các anh: Tư Võ, Mười Thiện, Bùi Phùng, Mười Vị, Sáu Thịnh... và biết bao cán bộ, chiến sỹ ngành Hậu cần của chiến trường B2.

Khi anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà lên đường ra Bắc họp, thì những ngày này các lực lượng của B2 cũng nhộn nhịp lên đường hành quân tới các vị trí tập kết để bước vào cuộc chiến đấu mùa khô theo kế hoạch.

Trở lại nói về Đồng Xoài, đây là vị trí then chốt của toàn bộ tỉnh Phước Long cũng như của tuyến đường 14 này vì nó là yết hầu, là cửa ngõ, là con đường sống, nối toàn tỉnh với các vùng của Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn. Mất Đồng Xoài thì bộ phận còn lại của đối phương ở tỉnh Phước Long và đường 14 bị cô lập, sẽ khốn đốn về tiếp tế mọi mặt cho một tỉnh miền núi vốn nghèo lương thực, thực phẩm. Với ta, mục đích giải phóng đường 14 để mở đường hành lang cho lực lượng cơ động từ miền Bắc vào; chuẩn bị cho cánh quân sẽ đánh vào Sài Gòn từ phía đông. Muốn mở đường 14 thì phải đánh Đồng Xoài. Không giải phóng được Đồng Xoài thì cũng có nghĩa là mục đích của kế hoạch mùa khô này chưa đạt được.

Vị trí Đồng Xoài thật sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhiệm vụ đánh Đồng Xoài và đánh viện binh giao cho Sư đoàn 7 do Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, anh Bùi Cát Vũ trực tiếp chỉ đạo với phương án là ta dùng cách đánh đặc công bí mật gỡ mìn, cắt hàng rào và luồn bộc phá ống vào để phá vật cản mở cửa mở cho một hướng tiến công. Còn một hướng khác thì dùng hai khẩu pháo 85 bắn chế áp lô cốt và hoả điểm đầu cầu của đối phương để cho bộ binh mở cửa và xung phong. Đây là lối đánh mới mà Bộ chỉ huy Miền đã giao cho anh Bùi Cát Vũ tổ chức tập huấn cho cán bộ các cấp từ trung đoàn đến đại đội những tháng trước đó ở khu vực Cánh Đồng Pan; giai đoạn cuối có xây dựng trên thực địa với tưởng định là chi khu Đồng Xoài để tập thực binh một cách sát thực tế và nhuần nhuyễn lối đánh mới này. Nhưng, khi anh em đang gỡ hàng rào kẽm gai của đối phương thì chúng tôi nhận được điện từ ngoài Trung ương vào với nội dung không cho đánh Đồng Xoài, đặc biệt không cho dùng pháo lớn, và chỉ tác chiến quy mô cấp đại đội. Không cho đánh chi khu, chỉ đánh đồn cấp đại đội trở xuống. Trong cán bộ có nhiều đồng chí thắc mắc là tại sao cấp trên lại không cho đánh, hơn nữa cấp Bộ mà lại chỉ đạo quá cụ thể như vậy? Trong thâm tâm thì tôi hiểu nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp của sự việc này, nhưng không thể nói hết ra để giải thích cho anh em được. Dịp gần cuối năm 1972, Hen-ri Kít-xinh-giơ, Cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ đã gõ và mở được cửa Trung Quốc sau hơn 15 năm đóng băng quan hệ Trung-Mỹ. Và ngay sau đó là chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Ních-xơn với “Thông báo Thượng Hải” làm cả thế giới sửng sốt. Tiếp đó là cuộc gặp gỡ cấp cao Xô-Mỹ. Đây thật sự là cuộc tiếp xúc, tính toán, thoả thuận giữa “các nước lớn”. Nhưng kể từ đó, cả Liên Xô và Trung Quốc đều cắt giảm phần lớn viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là súng pháo lớn và vũ khí tiến công. Đây thật sự là một trở ngại, một khó khăn vô cùng lớn và có phần bất ngờ đối với cách mạng Việt Nam. Với chúng ta, sau khi đã thực hiện thắng lợi được bước một là "Đánh cho Mỹ cút" trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Bác và Bộ chính trị “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, và, sau hơn một năm đấu tranh kiên cường và sáng tạo, tương quan lực lượng và hình thái chiến trường đang mở ra cho ta những thuận lợi mới để tiến công và nổi dậy mạnh mẽ hơn, tạo thời cơ tiến tới tổng tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định. Nhưng vì hiện trạng lượng tăng và pháo lớn dự trữ của ta không còn nhiều nên ý định của đồng chí Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và của Bộ Chính trị là hạn chế đến mức tối đa, tiết kiệm đến mức tối đa pháo, đạn pháo lớn, tăng-thiết giáp và vũ khí tiến công nặng, để giành cho trận quyết chiến cuối cùng. Còn nguyên nhân trực tiếp là trong mùa mưa vừa rồi ta đã dùng một trung đoàn bộ binh cùng với tăng-pháo để đánh đồn Rạch Bắp nhưng không thành công, nên cấp trên e ngại nay B2 chúng tôi đánh chi khu Đồng Xoài là vị trí lớn hơn, khó hơn Rạch Bắp sẽ lại không thành công mà hao tổn pháo đạn nên đã lệnh vào không cho đánh, hơn nữa còn quy định cụ thể như vậy.

Cấp trên ra lệnh không cho đánh Đồng Xoài là có lý đúng của trên vì cuộc tập huấn cách đánh mới của B2 trên Bộ chưa hề biết nên vẫn đinh ninh rằng Rạch Bắp đã đánh không nổi thì đánh Đồng Xoài sẽ càng khó khăn hơn. Mà trận mở màn mùa khô không thành công thì sẽ gây nhiều bất lợi cho toàn chiến trường miền Nam.

Khi nhận được lệnh của trên, tôi bảo anh em mở xong hàng rào thì cài lại, đánh dấu để đó, giữ nguyên lực lượng lui ra bao vây. Chúng tôi sử dụng Trung đoàn 271 thuộc Sư đoàn 3 do anh Sáu Hưng chỉ huy, có anh Hoàng Cầm kiểm tra đôn đốc phía sau, tăng cường cho hướng tiến công chủ yếu này 2 khẩu pháo 85 ly và hai nghìn viên đạn để đánh vào Bù Đăng. Tôi nói với các anh, khi đánh được Bù Đăng rồi thì ta sẽ đánh Đồng Xoài liền. Tất nhiên tôi không quên điện ra Bắc cho anh Trà biết quyết định điều chỉnh kế hoạch, thay đổi việc chọn mục tiêu đánh trận mở màn cho mùa khô này.

Bộ chỉ huy phân công mỗi người bám sát và chỉ đạo một hướng: Bùi Cát Vũ ở hướng Đồng Xoài, Hoàng Cầm ở hướng Sư đoàn 3, Năm Ngà ở hướng Khu 6, tôi đang được thay anh Trà thì ở sở chỉ huy trung tâm cùng với anh Hai Tưởng, chỉ đạo toàn chiến trường B2 mà trọng điểm là miền Đông, trong đó trọng yếu là Tây Ninh-núi Bà Đen. Sở chỉ huy trung tâm lúc đó đặt ở Tà Thiết.

Vị trí Bù Đăng đứng trên một địa hình rừng núi hiểm trở, gồm ba cụm mục tiêu chủ yếu: Chi khu quân sự, căn cứ Vĩnh Thiện, khu hành chính và tiểu đoàn 362 bảo an cùng lực lượng dân vệ đóng giữ. Sáng 14-12-1974 lực lượng của Sư đoàn 3 bắt đầu nổ súng tiến công. Trung đoàn 271 tiến công trên hướng chủ yếu, đánh vào chi khu quân sự, đến 8 giờ 40 phút đã chiếm được chi khu và khu hành chính. Trung đoàn 201 tiến công trên hướng thứ yếu, 8 giờ đã làm chủ căn cứ Vĩnh Thiện. Cùng lúc, lực lượng vũ trang địa phương tiến công quét sạch các đồn và chốt dân vệ ở xung quanh chi khu. Bộ đội ta thừa thắng truy kích tàn binh đối phương và lần lượt chiếm các vị trí của chúng ở ngã ba Km 10, Km 48 và cầu 38 trên đường 14.

Trên hướng thứ yếu Bù Na, ta tổ chức vây ép yếu khu này. Tiểu đoàn 363 bảo an đóng giữ ở đây thấy Đồng Xoài đang bị bao vây, Bù Đăng bị ta chiếm và lộ 14 bị ta cắt đứt ở Km 19 nên đã nhằm đêm 15-12 rút chạy về Phú Riềng. Ta thu được 2 khẩu pháo 105 mm và rất nhiều đạn pháo. Quân ta truy kích, diệt và làm tan rã gần hết tiểu đoàn này, đồng thời diệt 7 đồn đối phương từ Bù Na đến Liễu Đức. Chốt đối phương ở cầu 11 bị tiểu đoàn 9 của trung đoàn 209 vây ép, ngày 16-12 cũng bỏ chạy về Đồng Xoài. Chúng tôi quyết định nhanh chóng chuyển cuộc tiến công sang đợt 2 - tiêu diệt hai chi khu Bù Đốp và Đồng Xoài.

Rạng sáng 23-12, Trung đoàn 165 do Trung đoàn trưởng Trần Quang Triệu và Chính ủy Nguyễn Can chỉ huy, cùng lực lượng được tăng cường, nổ súng tiến công chi khu Bù Đốp. Đánh đến chiều thì ta làm chủ Bù Đốp rồi phát triển về hướng tây, bức rút hai đồn ngã ba Phước Lộc và Phước Quả.

Trước nguy cơ Bù Đốp bị tiêu diệt, tiểu khu Phước Long bị uy hiếp, trưa ngày 23, Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn (của Dư Quốc Đống) dùng máy bay lên thẳng đổ một tiểu đoàn và 2 khẩu pháo 155 ly xuống Phước Bình. Lực lượng này lập tức hành quân theo lộ 311 đến phía tây Phước Quả để ngăn chặn ta. Như vậy, quân đối phương đã bị thu hút về hướng Bù Đốp đúng như ý định của chúng tôi. Bởi vậy, trên hướng chủ yếu quân ta lập tức triển khai lực lượng để tiêu diệt Đồng Xoài.

Đồng Xoài là một căn cứ khá lớn, có chiều dài 600 mét, rộng 300 mét. Lực lượng đối phương có khoảng 1300 tên. Xung quanh căn cứ có từ 11 đến 16 lớp rào kẽm gai và bãi mìn các loại. Trong căn cứ có hơn 500 lô cốt và ụ súng, 4 khẩu pháo lớn 155 ly và 105 ly.

Nhiệm vụ đánh diệt Đồng Xoài vẫn giao cho Sư đoàn 7 của Lê Nam Phong. Hướng tiến công chủ yếu giao cho Trung đoàn 141 do đồng chí Lê Dương Liễu làm Trung đoàn Trưởng, Nguyễn Ngọc Doanh làm Chính ủy, được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 khẩu cối 160 ly, 2 khẩu lựu 122, 1 khẩu cối 120, một pháo 105, 4 khẩu pháo 85 và hai tiểu đoàn súng phòng không. Giao cho Trung đoàn 201 chặn phía nam, Trung đoàn 209 chặn phía tây căn cước sẵn sàng diệt viện binh, không cho đối phương từ Phước Vĩnh lên và Chơn Thành sang ứng cứu.

5 giờ sáng 26-12, Trung đoàn 141 nổ súng tiến công chi khu Đồng Xoài. Đến 15 giờ cùng ngày thì đơn vị diệt mục tiêu cuối cùng là chốt cầu số 2.

Sư đoàn 3 cũng cho một mũi bao vây Bà Rá. Một mũi khác anh em thừa cơ tự vận động lên chiếm sân bay Phước Bình. Trước đó nó cho một đại đội biệt kích nhảy dù đổ bộ, anh em của ta đánh mạnh thì nó co lại. Khi anh em đánh chiếm Bà Rá vì chúng biết đã mất Đồng Xoài nên chống cự không đáng kể.

Như vậy sau 4 ngày chiến đấu, ta đã diệt hai chi khu, nhiều đồn bốt, đánh tan hai tiểu đoàn bảo an, thu được nhiều vũ khí, giải phóng hoàn toàn lộ 14. Thấy quân đối phương không có phản ứng gì lớn, tôi hội ý trong Bộ chỉ huy Miền, quyết định tiến công đợt 3, tiêu diệt khu vực phòng thủ cuối cùng, giải phóng Phước Long.

Đối phương ở Phước Long còn khá đông, khoảng hơn 4 tiểu đoàn và một chi đội xe M113, 4 trận địa pháo; bố trí liên hoàn chặt chẽ nhưng lúc này đang rơi vào thế bị cô lập, tinh thần binh lính hoang mang sau khi biết rõ Bà Rá, Đồng Xoài, Bù Đốp, Bù Đăng và hàng loạt đồn bốt dọc lộ 14 đã mất.

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh

Lúc này chúng tôi quyết định tăng cường 1 đại đội xe tăng, tiểu đoàn lựu pháo 105 ly và Trung đoàn 16 bộ binh. Đúng rồi! Tôi nhớ rõ là đối phương đã mất Đồng Xoài và Bà Rá thì chúng tôi mới tăng cường Trung đoàn 16 đang đứng chân ở Củ Chi cơ động lên bao vây phía bắc và chuẩn bị đột phá từ hướng này, còn các hướng khác thì các đơn vị đã và đang chiến đấu tại đây hình thành thế bao vây rồi; chứ nói “ta có kế hoạch tiến công Phước Long từ trước” là không đúng, mà nó chỉ nảy ra khi đã đánh thắng, giải quyết dứt điểm Đồng Xoài.

Bộ chỉ huy chúng tôi họp và phân công ba người: Lê Đức Anh, Hoàng Cầm, Năm Ngà, mỗi người chỉ huy một hướng tiến công giải phóng Phước Long. Tôi điều thêm một tiểu đoàn binh chủng gồm xe tăng và lựu pháo 105 ly vào tăng cường. Số đơn vị tăng cường (Trung đoàn 16, tiểu đoàn tăng-pháo) giao cho các anh Hoàng Cầm, Hai Tưởng và Bùi Cát Vũ chỉ huy.

Khi các đơn vị đã vào vị trí triển khai đội hình xong, sáng 31 tháng 12, ta phát lệnh nổ súng. Đến chiều ngày 6 tháng 1-1975, ta diệt mục tiêu cuối cùng là hầm ngầm ở trung tâm hành chính, làm chủ hoàn toàn thị xã Phước Long, kết thúc thắng lợi hoàn toàn chiến dịch.

Có một chuyện là khi ta đột kích vào, có lẽ vì đối phương đang ở trạng thái hoang mang tinh thần, nên khu trưởng Phước Long tên là Chi đưa cố vấn Mỹ bỏ chạy; vậy mà có người nói chống cự quyết liệt là không đúng.

Sau 24 ngày chiến đấu tiến công, ta đã diệt và làm tan rã hoàn toàn quân đối phương ở Phước Long, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh; giải phóng tỉnh Phước Long với hơn 50 vạn dân. Ta đã làm tan rã 4 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn chủ lực, 2 đại đội biệt kích, 4 đại đội thám sát, 2 đại đội cảnh sát, 6 trung đội thám báo phượng hoàng, 10 trung đội pháo 105 và 155 ly, 60 trung đội dân vệ và 3000 phòng vệ dân sự; diệt 1 tiểu khu, 4 chi khu và 1 yếu khu. Ngay sau khi giải phóng Phước Long, anh Võ Văn Kiệt đã điều khoảng mấy chục công nhân lên tiếp thu và quản lý nhà máy chế biến mủ cao su ở đồn điền Phú Riềng.

Ở đây, tôi tự rút ra được mấy điều. Một là, về phía đối phương, khi ta chọn đúng và đánh đòn hiểm (chi khu Đồng Xoài) thì lập tức nó hoang mang, nao núng tinh thần. Hai là, phát động được tinh thần chủ động sáng tạo của bộ đội từ cơ sở trở lên thì không những ta khắc phục được những hạn chế vốn có (về vũ khí trang bị), để tìm ra cách đánh mới có hiệu quả, mà còn làm cho bộ đội, nhất là cán bộ chỉ huy các cấp luôn phát huy được tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm trong quá trình phát triển chiến đấu. Ba là, cấp trên dù khi chưa hiểu rõ cấp dưới, ra lệnh, thì cấp dưới phải nghiêm chỉnh chấp hành, nhưng tùy từng tình hình mà có những quyết định cho đúng, chớp thời cơ, quyết định kịp thời, quyết định tại chỗ, đúng hướng, không “theo lệnh trên” một cách rập khuôn máy móc. Mạnh dạn quyết định dùng chủ lực và hỏa lực tăng cường để tiến công quyết liệt khi biết rõ quân đối phương đã dao động hoang mang, quân ta đang ở thế thượng phong thì phải dấn tới giành chiến thắng cao nhất.

Từ trước đến nay, diệt đối phương hành quân dã ngoại, đối phương đi cứu viện... nghĩa là diệt đối phương ở bên ngoài cứ điểm là sở trường của ta. Nhưng khi ta đưa được pháo lớn vào đánh, bộ đội thì phấn khởi; khi ta đánh được quân đối phương trong căn cứ có công sự, lô cốt vững chắc thì quân đối phương lập tức hoang mang dao động. Kế hoạch lúc đầu xác định Đồng Xoài là trận then chốt, nhưng trên không cho đánh. Sau đó, khi ta đã đánh được liên tục Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài, Bà Rá, nhất là giải quyết Đồng Xoài thì quân đối phương dao động lớn; ta chớp thời cơ đánh chiếm Phước Long. Đây là thời cơ tại chỗ, không một người nào định trước cả. Nó phát sinh tại chỗ. Khi anh em lấy được Bù Na, thu được hai khẩu pháo và rất nhiều đạn pháo; đánh Đồng Xoài không sai nguyên tắc, khi người chỉ huy thấy đã đánh được các vị trí kia rồi thì phát triển thêm. Được lệnh đánh liền sang Đồng Xoài thì anh em rất phấn khởi, hăng hái, còn quân đối phương thì hoang mang dao động. Có thể nói đây là thời cơ phát sinh tại chỗ cả về chiến dịch cả về chiến thuật. Đến lúc ta đưa tăng vào, đưa pháo vào, quân đối phương hoảng không chống cự mà bỏ chạy. Trung đoàn 16 còn đứng nguyên chưa phải đánh. Như vậy là, khi ta đánh đòn phủ đầu mà trúng huyệt hiểm thì đối phương rã. Nếu ta lừng chừng không chớp thời cơ này đánh tới, mà để chậm, họ đưa lên một liên đoàn biệt động tăng cường cho núi Bà Rá và thị xã Phước Long thì ta sẽ khó hơn rất nhiều. Đây không phải là chủ trương có trước của Bộ chỉ huy Miền, mà tình hình cụ thể đặt ra phải xử lí. Nếu ta tách vòng ngoài xong rồi mới đột kích vào như cách đánh thông thường thì khó thắng.

Có thể nói, chiến thắng Đường 14 - Phước Long và núi Bà Đen đối với Mặt trận B2 đã tạo ra một địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp phía đông quốc lộ 13 và hệ thống phòng thủ của đối phương trên hướng bắc Sài Gòn, làm thay đổi đáng kể tương quan về thế trận trên chiến trường Đông Nam Bộ có lợi cho ta. Đối với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, Bộ tổng Tham mưu thì chiến thắng Đồng Xoài- Đường14- Phước Long có ý nghĩa là “Trận trinh sát chiến lược” thăm dò khả năng quân đội Sài Gòn và sự can thiệp của Mỹ, làm sáng tỏ hơn những cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam. Lịch sử có nhiều cái tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại mang tính quy luật. Lần này, chiến thắng Đồng Xoài - Đường 14 - Phước Long, lần đầu tiên ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh, lại diễn ra đúng lúc Hội nghị Trung ương đang họp và tập trung bàn về quyết tâm chiến lược, thực hiện nốt nửa sau tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhìn khái quát lại hai năm 1973-1974 thì thấy rất rõ là, sau Hiệp định Paris, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh khá quyết liệt vào các vùng giải phóng. Nhiều nơi ta mất đất, mất dân. Điều đó nói lên Mỹ thành công bước đầu chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”; nó đánh được chứng tỏ quân đội và chính quyền Sài Gòn đã tương đối vững. Trước đó nó đã đánh, và nhất là sau khi ký Hiệp định, nó đánh mạnh và nó tưởng rằng nó đã thành công chiến lược Việt Nam hoá. Nó tưởng rằng ngụy quân ngụy quyền đủ sức đánh với ta. Do đó Mỹ ký rồi thì yên tâm mà rút. Phía ta để mất đất mất dân là không hay. Nhưng bên cạnh cái không hay là lại có mặt hay là làm cho nó chủ quan. Trong lúc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang chủ quan thì lại được cộng thêm sự kiện ở Rạch Bắp (huyện Bến Cát-Thủ Dầu Một); ta dùng một trung đoàn bộ binh chủ lực được tăng cường xe tăng và pháo để đánh một đại đội mà không thành công, bị thương vong, ta phải lui quân. Thêm sự kiện trận đánh này càng làm cho họ chủ quan.

Đến khi ta huấn luyện cách đánh mới, rồi tấn công bằng bộ binh cộng thêm pháo bắn thẳng để đánh chi khu quân sự của đối phương, thì họ hoàn toàn bị bất ngờ. Thực ra Bù Đăng là một chi khu quân sự chúng bố trí còn hiểm hơn Đồng Xoài. Trong này không báo cáo nên ngoài Bắc không hề biết là trong này “đánh chi khu” đâu. Khi Sư đoàn 3 của anh Sáu Hưng đánh Bù Đăng thắng lợi thì lực lượng Sư đoàn 7 của anh Lê Nam Phong lót sẵn đã đánh thẳng vào chi khu Đồng Xoài. Thực chất cả hai nơi này, ở mỗi nơi ta chỉ dùng lực lượng là một trung đoàn bộ binh cộng với pháo có mức độ. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 7 chủ yếu bố trí đón lõng để đánh viện binh. Còn Sư đoàn 9 bố trí ở khu vực Dầu Tiếng-Bến Củi thì kiềm chế, thu hút Sư đoàn 25 và lực lượng quân đội Sài Gòn ở khu vực núi Bà Đen và sắn sàng đón đánh Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn từ Thủ Dầu Một lên chi viện cho quân đội Sài Gòn ở Phước Long. Như vậy Sư đoàn 9 do đồng chí Ba Hồng chỉ huy có nhiệm vụ kiềm chế 2 sư đoàn quân đội Sài Gòn. Đánh xong chi khu ta mới đột phá vào thị xã và đã gây bất ngờ lớn cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Kể từ Tổng tiến công Mậu Thân 1968 đến khi đánh vào và giải phóng thị xã Phước Long, ta mới có cơ sở khẳng định rằng: Thực chất quân đối phương chỉ tập trung phòng ngự rắn ở vòng ngoài, còn tại các thành phố, thị xã, noi cơ quan đầu não của đối phương lại chính là nơi chúng sơ hở nhất; bởi vậy ta có thể dùng biệt động, đặc công kết hợp với bộ binh, có pháo bắn chế áp để đột phá vào, kết hợp với lực lượng quần chúng tại chỗ nổi dậy thì thành công.

Ta đánh thắng trận này trong một tư thế mới - Tư thế quân đội Sài Gòn thua đau mà quân Mỹ không dám quay trở lại. Ta cũng đã chuẩn bị phương án khi nó phản công quyết liệt bằng bộ binh và phi pháo, nhưng nó đã không dám làm, mà chỉ cho chừng một tiểu đoàn nhảy dù xuống. Do đó, có thể nói cái dở ở đây đã chuyển thành cái hay. Và trận thắng Đồng Xoài-Phước Long đã thật sự trở thành cơ sở đáng tin cậy để Trung ương hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976 khi thời cơ lớn đã thật sự mở ra.

Xin nói lại chỗ này một chút cho rõ. Về ý định giải phóng miền Nam, Bộ Chính trị họp bàn và thống nhất là hai năm 1975-1976. Nhưng anh Lê Duẩn vẫn băn khoăn và nói cố gắng làm sớm, giải phóng sớm miền Nam, để quân đội Sài Gòn lại hồn thì khó. Tôi cho rằng đây là một suy nghĩ sắc sảo của anh Lê Duẩn.

Thực tế sau khi đánh được Phước Long, Bộ chỉ huy Miền chúng tôi đã làm kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn. Chúng tôi thảo phương án sử dụng lực lượng, lấy lực lượng tại chỗ là chủ yếu, tính toán kỹ thấy chỉ thiếu một quân đoàn. Anh Trà đi họp ngoài Bắc vào, nói: “Anh Ba (Lê Duẩn) bảo sẽ làm sớm, để chậm sẽ khó khăn phức tạp”. Anh Trà cũng cho biết (và anh có nói chuyện này trong thiên hồi ức của mình) là sau khi ta đã có chiến thắng Phước Long thì kế hoạch đột phá mở đầu Tổng tiến công 1975 vẫn là chi khu Đức Lập chứ không phải là Ban-mê-thuột. Anh Trà bảo, lúc đầu ý kiến chọn đánh Ban-mê-thuột còn ngang ngửa lắm. Nhưng rồi cuối cùng thực tiễn chiến trường đã cho phép ta chọn Ban-mê-thuột. Anh Lê Duẩn nói: "Đánh Ban-mê-thuột xong sẽ đánh Sài Gòn!". Khi anh Phạm Hùng và anh Trà trở về, họp bàn thống nhất với chúng tôi trong Bộ chỉ huy là điện xin Trung ương đưa ngay Quân đoàn 3 vào tăng cường cho B2. Cả Bộ chỉ huy Miền gần như thống nhất là sẽ tiến công giải phóng Sài Gòn vào tháng Tư vì sang tháng 5 đã vào đầu mùa mưa ở Nam Bộ, việc cơ động của ta, nhất là tăng, pháo và cơ giới sẽ khó khăn, mà khó khăn nhất là hướng Tây-Tây Nam Sài Gòn, vùng Long An mênh mông đồng nước, kênh rạch và sình lầy. Cùng với việc soạn thảo kế hoạch là xây dựng "Quyết tâm chiến đấu", sơ đồ đã phác ra năm hướng tiến công vào sào huyệt cuối cùng của quân thù.

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh

Bởi vậy khi hai anh Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị cử vào, các anh xem văn bản "Kế hoạch tiến công mùa khô..." và "Quyết tâm chiến đấu" thì nói “Kế hoạch làm tốt, nhưng phải thêm quân”. Và các anh cũng thấy nơi khó nhất là hướng Tây-Tây Nam vì sình lầy. Các anh cũng thống nhất với nhận định phân tích của Bộ chỉ huy Miền - Đây là một hướng tiến công rất quan trọng vì nhất định ta phải nhanh chóng chia cắt quân đối phương trên tuyến quốc lộ số 4 để quân đối phương ở Sài Gòn không thể co cụm xuống cố thủ ở Tây Đô (Cần Thơ). Nếu nó co cụm được về đó thì phức tạp, và “trận đánh cuối cùng” của ta sẽ không “thuận buồm xuôi gió”; và ngược lại, nếu ta chia cắt được lộ 4 thì Quân đoàn 4 và quân đội Sài Gòn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ không thể kéo về ứng cứu cho Sài Gòn. Anh Hai Tưởng và tôi được đảm trách chỉ huy và lãnh đạo cánh quân tiến công trên hướng Tây-Tây Nam - một trong năm hướng tiến công, một trong năm cánh quân của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Như vậy, trước chiến dịch, Bộ chỉ huy đã quyết định rút hai anh Năm Ngà, Tư lệnh và Văn Phác, Chính ủy Đoàn 232 về Bộ chỉ huy Miền công tác. Cánh quân hướng Tây-Tây Nam lúc này trên cơ sở Đoàn 232 giữ nguyên, bổ sung các đơn vị vào, đội hình tiến công của hướng này gồm có: 3 sư đoàn bộ binh(3, 5 và 9), 4 trung đoàn độc lập, 1 trung đoàn đặc công, được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng T54, 1 tiểu đoàn thiết giáp PT85, 1 tiểu đoàn pháo 130mm, 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn phòng không, cùng với Sư đoàn 8 của Quân khu 8 và các lực lượng vũ trang địa phương, tất cả tương đương một quân đoàn tăng cường. Nếu nói gọn lại thì chúng tôi được giao 3 mục tiêu rất quan trọng là: Cắt lộ 4 (đoạn từ thị xã Long An tới Bến Lức), cắt xong thì tiến công Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành. Sau đó chia làm hai mũi, một vào Dinh Độc Lập và một vào căn cứ Bộ tư lệnh Hải quân (Ba Son và Bạch Đằng).
Khi nhận nhiệm vụ cùng tôi chỉ huy cánh quân hướng Tây-Tây Nam đánh vào Sài Gòn, anh Lê Văn Tưởng rất phấn khởi vì ở “thời điểm lịch sử” lại được cấp trên giao nhiệm vụ đúng với ước nguyện của mình là “Trận cuối cùng được trực tiếp về tham gia giải phóng quê hương” vì anh là người gốc Long An. Tôi đã có dịp sát cánh với anh trong đợt 2 của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Anh là một cán bộ rất trung thực, dễ gần, chu đáo và rất kiên cường dũng cảm. Nhận nhiệm vụ xong, tôi bảo anh về trước chuẩn bị về tổ chức, chiều 13 tháng Tư anh đi, ngày 14 anh đã có mặt ở sở chỉ huy Tây-Nam, tôi ở lại họp Bộ chỉ huy chiến dịch, đến ngày 17 thì xuống Long An chính thức “cầm quân” ở hướng này.

Anh Hai Tưởng trao đổi, chúng tôi đề xuất và được trên chấp thuận là điều anh Lê Quốc Sản, Tư lệnh Khu 8 làm Phó chỉ huy, anh Hai Nghiêm trước đó làm Phó tư lệnh đoàn 232 nay làm Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh cánh Tây-Tây Nam. Trên hướng này thì chỗ lộ 4 là rất khó, nhiệm vụ này giao cho Sư đoàn 5 do anh út Liêm làm Sư đoàn trưởng, anh Xuân Hoà làm Chính ủy; vì khó nên Sư 5 xuống từ hai, ba tháng trước đó. Tìm mọi cách để cắt đứt lộ 4 trước ngày N-3, tức là làm xong trước khi toàn tuyến nổ súng tiến công ba ngày. Phải phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ cắt cho được đoạn từ Tân An tới Bến Lức. Cắt rồi thì giải phóng Tân An, Bến Lức và giữ cho được hai đầu. Lúc đó có một cô du kích tên là Sáu Sửa dẫn trung đoàn ra cắt lộ. Trời mưa xối dữ lắm. Phụ nữ mà dầm mình dưới nước, đỉa bu vào cứ bắt đỉa ném đi. Sau đó cô được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sau này cô làm Bí thư Huyện uỷ Thủ Thừa, rồi Bí thư Huyện ủy Đức Huệ, rồi Phó chủ tịch tỉnh Long An.

Tôi giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 5 cho một trung đoàn đánh Thủ Thừa, hai trung đoàn đánh thị xã Tân An. Sư 5 làm cho tốt nhiệm vụ cắt lộ 4, cắt được rồi thì phát triển vô thành phố, chiếm Phú Lâm.

Sư đoàn 8 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích của Khu 8 đánh chiếm Mỹ Tho và đoạn Cái Bè, kiên quyết không cho quân đội Sài Gòn từ Sài Gòn chạy về co cụm ở vùng 4 chiến thuật (tức Cần Thơ).

Còn một mũi tiến công nữa cũng rất khó, đó là Cần Giuộc, Nhà Bè vì ngập nước, sình lầy. Bởi vậy chúng tôi đã cử ba đồng chí đảm nhiệm mũi này. Một là Tư Thân, Phó tư lệnh Quân khu 8, rất giỏi và thông minh; Chính ủy là Võ Văn Thạnh tức Ba Thạnh (Cục phó Chính trị Miền, quê gốc ở Nhà Bè); ba là Tư Chiểu, là Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Long An quê gốc Long an. Lực lượng trên mũi này phải nhờ những xuồng nhỏ của dân để vận động, cả quãng đường dài tiến công là hệ thống đồn bốt giặc dày đặc, đi tới đâu phải gỡ đồn bốt tới đó; tất cả có đến mấy chục đồn. Nhưng khi bộ đội ta đánh vài đồn phủ đầu thì các đồn khác thấy quân ta tiến đến liền bỏ chạy.

5 giờ chiều 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng tiến công.

Đến sáng ngày 30-4-1975, Sư đoàn 3 đã hoàn thành việc đánh chiếm khu vực Hậu Nghĩa và hai bên sông Vàm Cỏ, bảo đảm bến vượt cho Sư đoàn 9 - Lực lượng thọc sâu vào nội đô Sài Gòn. Sau khi vượt sông, Sư đoàn 9 do đồng chí Ba Hồng, tức Võ Văn Dần làm Sư đoàn trưởng, tổ chức tiến quân theo hai mũi: Mũi thứ nhất, Trung đoàn 1 sau khi đánh tan 1 tiểu đoàn dù nguỵ ở ngã ba Bà Quẹo, đánh chiếm phân chi khu Vĩnh Lộc, trung đoàn tiến vào ngã tư Bảy Hiền, đập tan sự kháng cự của đối phương ở đây và phát triển theo đường Lê Văn Duyệt, đánh chiếm biệt khu Thủ đô, bắt tướng nguỵ Lâm Văn Phát. Mũi thứ hai, Trung đoàn 3 tiến công tiêu diệt sở chỉ huy Liên đoàn 8 và Tiểu đoàn biệt động quân 88 nguỵ trên tuyến vành đai Đại Hàn; tiếp đó đánh tan Tiểu đoàn bảo an 327, diệt chi khu Bà Hom, đánh chiếm Trường đua Phú Thọ và phái một bộ phận sang hợp điểm ở Dinh Độc Lập. Mũi tiến công của Trung đoàn 24, lúc 5 giờ 30 phút, trung đoàn cùng đơn vị đặc công tiến công diệt đồn ngã ba Đình Hưng Đông, sau đó chiếm cầu Nhị Thiên Đường và cầu Chữ Y. 10 giờ 30 phút, đánh chiếm Bộ tư lệnh Cảnh sát quốc gia và đưa một bộ phận sang hợp điểm Dinh Độc Lập.

Trung đoàn 88, từ 5 giờ 30 đến 8 giờ, tiến công diệt đồn và phân chi khu Bà Phước, sau đó phát triển tiến công và làm chủ đồn Ông Thìn, ngã ba An Phú và Nhà Bè.

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh

Trung đoàn 16, lúc 6 giờ 30, chiếm ga An Lộc. 10 giờ 30, chiếm cầu Bình Điền, sau đó phát triển vào nội thành.

Sư đoàn 5, từ 5 giờ đến 12 giờ, tiến công diệt và bức hàng toàn bộ Sư đoàn 22 và các liên đoàn biệt động quân, cùng lực lượng tại chỗ của quân nguỵ, đánh chiếm thị xã Tân An, chu khu Thủ Thừa.

Các đơn vị đặc công, 8 giờ chiếm quận Tân Bình. 10 giờ, chiếm quận Bình Chánh. 12 giờ chiếm khu Rừng Sác.

Mũi tiến công do ba đồng chí Tư Thân, Ba Thạnh và Tư Chiểu phụ trách được giao mục tiêu chủ yếu trong nội đô là Tổng nha Cảnh sát và Cảnh sát đô thành. Mũi này đã thực hiện dứt điểm được sớm nên quân đối phương không kịp chạy, càng không kịp tẩu tán và hủy tài liệu. Khoảng hơn 9 giờ sáng 30 tháng Tư bộ đội đã chiếm lĩnh, làm chủ và tổ chức gác hết tất cả các vị trí. Anh em rất hăng hái nên dù không được giao mục tiêu nhưng khi hoàn thành nhiệm vụ sớm ở Tổng nha Cảnh sát, đã cho một mũi vào Dinh Độc Lập, còn một mũi phát triển ra cảng Hải quân.

Mũi phát triển vào tới Dinh Độc Lập thì hợp điểm với mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 ở đó. Thực tế ở “thời khắc lịch sử” trưa ngày 30 tháng Tư 1975, tại Dinh Độc Lập có mặt ba mũi tiến công từ hai hướng: Một mũi của Quân đoàn 2 từ hướng đông, một mũi của Sư đoàn 9 và một mũi của đồng chí Tư Thân từ hướng tây-tây nam. Thực tế lịch sử là như vậy, nhưng báo chí đã nói nhiều về biểu tượng “chiếc xe tăng húc đổ cổng sắt và cột cờ trong Dinh” nên anh em bộ đội Sư đoàn 9 vẫn khiêm tốn, không nói gì thêm nữa. Âu đây cũng là phẩm chất cao quý của “Anh bộ đội Cụ Hồ”.

Nhiều anh cứ nói Sư 22 quân đội Sài Gòn phản kích quyết liệt là không có, thực chất là phản kích không đáng kể rồi hoảng loạn và chạy rã. Sư đoàn 25 cũng vậy. Có thể nói lúc này quân ta đang ở thế thượng phong, còn quân đội Sài Gòn đã lâm vào tình thế “vỡ trận” nên tư tưởng tan rã và đầu hàng là phổ biến.

Cái gì đúng, hay thì ta nói đúng, hay; cái gì dở thì ta nói là dở, là thiếu sót khuyết điểm. Những cái ta đã nói, đã viết cơ bản là đúng nhưng chưa đúng tuyệt đối như sự thật đã diễn ra, càng chưa đủ. Thời gian đã trôi qua 30 năm, độ lùi lịch sử cho phép chúng ta phân tích kỹ càng hơn, nhìn nhận thấu đáo hơn, đánh giá đúng đắn hơn. Đó là trách nhiệm của những nhà viết sử.

Chẳng hạn, khi ta có Phước Long thì đâu đâu và lúc nào cũng chỉ thấy nói đến Chiến thắng Phước Long là không đúng và không đủ đâu. Mà phải thấy các trận đánh chiếm núi Bà Đen và thực hiện nghi binh để kéo Sư đoàn 25 nguỵ lên Tây Ninh, tạo điều kiện cho vùng ven đô và vùng ven lộ 4-Long An phát triển lực lượng, nói thế mới đầy đủ.

Còn ở hướng của Quân đoàn 3 phải tiến công giải quyết cứ điểm Đồng Dù cũng gặp thuận lợi vì Sư đoàn 25 đã bị căng kéo lên lo giữ Tây Ninh và Hậu Nghĩa do tác động từ khi Bộ chỉ huy Miền cho đánh nghi binh ở Tây Ninh và chiếm núi Bà Đen. Có thể nói quân đối phương còn lại tại Đồng Dù không nguyên vẹn như trước, bởi vậy khi pháo ta bắn thì quân đối phương bỏ chạy, Trung đoàn Gia Định (của đồng chí Ba Kiên chỉ huy) đã đón lõng bắt được rất nhiều. Tới Củ Chi thì lực lượng Sư đoàn 9 đã có mặt tạo điều kiện cho các đơn vị bộ binh của Quân đoàn 3. Xuống tới sân bay Tân Sơn Nhất thì đặc công của quân đoàn đã mở cửa rồi; cùng lúc máy bay A37 của Phi đội Quyết thắng do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu ném bom, sân bay tê liệt và quân đối phương hoảng loạn dẫn đến hỗn loạn. Hướng tiến công của Quân đoàn 1 ở Lái Thiêu cũng khá thuận lợi, không có trở ngại gì lớn, tuy nhiên là phải giải quyết dứt điểm các ổ đề kháng của quân đối phương.

Có thể nói chỗ rắn nhất và cũng là tuyến phòng thủ quan trọng nhất là Xuân Lộc-Long Khánh. Nhìn bao quát chúng ta thấy: Tuyến vòng cung phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn của đối phương từ hướng tây-bắc theo chiều kim đồng hồ đến đông nam Sài Gòn, tức là từ Tây Ninh đến Vũng Tàu, đối phương bố trí 3 sư đoàn chủ lực thiện chiến bậc nhất, gồm Sư đoàn 25 ở Trảng Lớn-Tây Ninh, Sư đoàn 5 ở Lai Khê-Bến Cát, Sư đoàn 18 ở Xuân Lộc-Long Khánh. Và trong số 5 sư đoàn bảo vệ vòng ngoài Sài Gòn (gồm sư 5, 7, 18, 22 và 25) thì Sư đoàn 18 đứng ở Xuân Lộc được đầu tư trang bị xây dựng từ chân tơ kẽ tóc, được chi viện tối đa về hoả lực, được tăng cường các đơn vị dự bị chiến lược cuối cùng của quân đội Sài Gòn. Xuân Lộc-Long Khánh là khu vực phòng ngự trọng yếu của đối phương ở quân khu 3, bảo vệ Sài Gòn từ phía đông, là một trọng điểm của tuyến phòng ngự Xuân Lộc-Biên Hoà-Bà Rịa-Vũng Tàu; đồng thời là điểm tựa hậu thuẫn vững vàng của phòng tuyến Phan Rang. Xuân Lộc là “Cánh cửa thép”-ngã tư quan trọng phát triển bốn hướng theo bốn trục lộ số 1, 20, 2 và 3, trong đó chủ yếu là án ngữ hai con đường quốc lộ 1 và 20 về Sài Gòn. ở đây, bên cạnh Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn thiện chiến và được trang bị mạnh, còn có sở chỉ huy Quân đoàn 3, Tổng kho Long Bình, sân bay và cầu lớn Biên Hoà. Ngoài những lực lượng phòng thủ đóng quân cố định tại đây, khi chiến dịch nổ ra, chúng còn tung vào nhiều lực lượng bộ binh chủ lực và cơ giới như: Lữ 1 dù, Chiến đoàn 5 Sư 5, Liên đoàn 7 biệt động quân, Lữ 3 thiết giáp, các trung đoàn thiết giáp, các lữ đoàn thủy quân lục chiến 315, 318, 320 v.v... Thực tế cho thấy Xuân Lộc là mắt xích quan trọng nhất của tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn. Âm mưu của đối phương là giữ cho được “Cánh cửa thép” này để hy vọng giữ được thủ phủ Sài Gòn, hòng tìm một giải pháp chính trị duy trì chế độ tay sai ngụy quyền ở miền Nam. Tổng thống chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu từng khẳng định “mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Còn các tướng lính quân đội Sài Gòn thì luôn rêu rao đây là “Phòng tuyến bất khả xâm phạm”, là “Cái máy nghiền các binh đoàn Việt cộng”.

Thực tế diễn ra ở những ngày tháng Tư năm1975 cho thấy, ở các hướng tiến công khác, quân đối phương cũng có chống cự nhưng không cản được quân ta. Các đơn vị của ta thực hành “đánh trong hành tiến” với thế “thượng phong”, còn quân đối phương hầu hết là hoang mang trong thế “vỡ trận và đầu hàng, tan rã”; chỉ riêng có vị trí Xuân Lộc-Long Khánh là gay go, ác liệt nhất. Nhưng, thực tế cũng đã cho thấy, sau những ngày chiến đấu quyết liệt, dũng mãnh, hy sinh to lớn của bộ đội thuộc Quân đoàn 4 và Quân khu 7, Trung đoàn 95B và các lực lượng vũ trang địa phương Biên Hoà, Bà Rịa, Long Khánh, dưới sự chỉ huy và quyết tâm rất cao của hai anh Trần Văn Trà và Hoàng Cầm thì vị trí “Cánh cửa thép Xuân Lộc-Long Khánh” đã được giải quyết một cách cơ bản. Cán bộ, chiến sỹ Quân đoàn 2 từ xa đã nhanh chóng thọc sâu vào nội đô là một công lớn, nhưng phải thấy rõ là khi Quân đoàn 4 và các lực lượng ở Đồng Nai đã chiếm và làm chủ từ ngã ba Dầu Giây, đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn ở Biên Hoà và tổng kho Long Bình, đã đánh chiếm sân bay Biên Hoà, rồi mở được cầu Biên Hoà là đã hoàn thành cơ bản, đã mở rộng đường tiến vào Sài Gòn. Từ cầu Biên Hoà tiến vào nội đô Sài Gòn, lực lượng đặc công của quân đoàn và biệt động đã đánh chiếm và giữ các cây cầu quan trọng, sức đề kháng của quân đối phương rất yếu ớt. Cho nên mũi thọc sâu của Quân đoàn 2 chỉ có một trung đoàn thiếu và một đại đội xe tăng đã xộc thẳng được vào tận Dinh Độc Lập. Bởi vậy, nói tới Chiến thắng 30 tháng Tư cần thấy rõ cả 5 cánh quân từ năm hướng, tiến công đồng loạt vào sào huyệt cuối cùng của quân đối phương với một quyết tâm và nỗ lực rất cao, trong đó kết quả tác chiến của đơn vị này đã mở ra điều kiện thuận lợi, thậm chí rất thuận lợi cho đơn vị kia.

Lại nữa, nếu nói tới Chiến thắng 30-4-1975 mà chỉ nói về 5 cánh quân 5 hướng tiến công, tức là chỉ nói về các “quả đấm chủ lực” thì không đủ. Phải thấy rõ đây thật sự là cuộc “Tổng tiến công và nổi dậy”, trong đó “quả đấm chủ lực” với những binh đoàn cơ động là lực lượng nòng cốt của đấu tranh quân sự, với những đòn điểm huyệt đã đánh trúng, đánh hay, đánh hiểm ở những trận then chốt và then chốt quyết định, chọc thủng và làm vỡ tuyến phòng thủ chiến lược của đối phương, khiến quân đối phương nhanh chóng lâm vào thế bị động, lúng túng rồi vỡ trận về quân sự, hoảng loạn về tinh thần. Nhưng để giải quyết đồng loạt, rộng khắp, kịp thời và thật sự làm cho cả bộ máy ngụy quyền và đội ngũ quân đội Sài Gòn quân 1,1 triệu tên với trang bị hiện đại, được viện trợ mạnh của đế quốc Mỹ, thì phải thấy rõ vai trò tiến công và nổi dậy của lực lượng tại chỗ, của lực lượng chính trị quần chúng, trong đó có cả lực lượng của những người bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ của đối phương, có cả cơ sở của cách mạng nằm trong hàng ngũ đối phương. Lực lượng tại chỗ tạo địa bàn và các yếu tố xã hội thuận lợi cho lực lượng chủ lực. Không có lực lượng tại chỗ thì chủ lực sẽ gặp khó khăn. Ngược lại, quả đấm chủ lực đã tạo "thời cơ vàng" cho lực lượng tại chỗ nhất loạt tiến công có hiệu quả. Phải thấy rõ vai trò lãnh đạo nhạy bén, kịp thời, thống nhất của các Khu ủy, Tỉnh ủy và Đảng ủy các cấp cơ sở trong những ngày Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Quân và dân tất cả các quân khu đã ở tư thế sẵn sàng, chuẩn bị đầy đủ nên đã chủ động tiến công và nổi dậy, thực hiện giải phóng hoàn toàn địa bàn của Quân khu, trong đó phải ghi nhận hai người giữ trọng trách hàng đầu là Bí thư Khu uỷ và Tư lệnh Quân khu: Khu 5-Bí thư là Võ Chí Công (Năm Công), Tư lệnh là Chu Huy Mân (Hai Mạnh). Khu 6-Bí thư là Năm Hoà (Trần Lê), Tư lệnh là Nguyễn Trọng Xuyên. Khu 7- Bí thư là Năm Chữ (Lê Quang Chữ), Tư lệnh là Lê Văn Ngọc. Khu 8- Bí thư là Năm Bê (Huỳnh Châu Sổ), Tư lệnh là Lê Quốc Sản. Khu 9- Bí thư là Vũ Đình Liệu, Tư lệnh là Lê Ngọc Hưng. Khu Sài Gòn-Chợ Lớn Bí thư là Mai Chí Thọ. Tư lệnh là Trần Hải Phụng. Quân khu Trị Thiên anh Lê Tự Đồng là Bí thư Khu ủy kiêm Tư lệnh Quân khu.

Đường lối "Khởi nghĩa vũ trang" và "Chiến tranh cách mạng" đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta đã chuyển hoá nhuần nhuyễn trong tổ chức lực lượng cách mạng và trong hành động cách mạng của quần chúng. Chính sự cộng hưởng sức mạnh từ hai lực lượng cơ bản - Quả đấm chủ lực và lực lượng tại chỗ ở thời điểm quyết định đã tạo nên thế và lực mới của cách mạng, một thế lực áp đảo, mạnh như vũ bão, nhanh chóng làm suy sụp, tan rã quân đối phương. Điều này đã lý giải đầy đủ cho sự kiện lịch sử: Nếu như cuối 1973, còn nhiều ý kiến bàn bạc, cân nhắc là chúng ta chỉ có thể cố gắng thực hiện giải phóng miền Nam từ 4 đến 5 năm. Đến Hội nghị Trung ương (đầu 1974), khi mà ta đã giải phóng Phước Long, quân đội Sài Gòn thua, Mỹ không dám quay trở lại, thì Hội nghị nhất trí hạ quyết tâm là hai năm 1975-1976. Nhưng thực tế, khi thời cơ đến, chúng ta đã thực hiện gọn gàng trong hai tháng.

Toàn bộ cuộc Tổng tiến công và Nổi dậy mùa Xuân 1975 đã toát lên một điều là Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta đã thấm sâu vào quần chúng, kể cả quần chúng bị bắt buộc vào trong hàng ngũ đối phương, đây là thời cơ nó bộc lộ ra, vô cùng sinh động, mạnh mẽ và hiệu quả hơn bao giờ hết.

Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh

Chỉ có sự lãnh đạo tài tình sáng suốt và đầy tính nhân văn của Đảng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là Đội Tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, người đại diện và phấn đấu suốt đời cho lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân, thành phần trí thức, các tầng lớp nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam, khi thời cơ cách mạng nó đã hiện ra, thì cả ba lực lượng: Lực lượng võ trang, lực lượng chính trị và lực lượng quần chúng, kể cả quần chúng bị bắt buộc trong hàng ngũ đối phương mới bộc lộ ra, phát huy sức mạnh, cộng hưởng, tạo nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng của từ này. Và sức mạnh đó đã thật sự làm được, làm đúng, làm có hiệu quả tinh thần chỉ đạo của Trung ương Cục là “Tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã...” Tinh thần "Thần tốc, táo bạo" không chỉ đối với các binh đoàn chủ lực từ xa đến, mà còn đối với cả các lực lượng tại chỗ - lực lượng chính trị, lực lượng binh vận, kể cả lực lượng nằm trong hàng ngũ của đối phương cũng đã nhanh nhất, táo bạo nhất, phối hợp với lực lượng chủ lực cơ động từ xa tới. Giờ chúng ta phải hiểu chữ "Thần tốc" như thế mới đầy đủ.

Chúng ta cũng đừng quên, sức mạnh của cách mạng Việt Nam có được như vậy còn do sự giúp đỡ, đồng tình ủng hộ và ủng hộ có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa, các dân tộc yêu chuộng hoà bình, đề cao chính nghĩa trên toàn thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ; mà đúng như đồng chí Lê Duẩn đã nói “Sức mạnh Dân tộc đã kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh to lớn chiến thắng quân thù”.

Nhưng cũng cần phải nói cho rõ là: Chúng ta, với sức mạnh như thế nhưng cũng chỉ đề ra mục tiêu là “đánh để Mỹ cút, Mỹ rút” thôi; còn cứ nói “đánh tiêu diệt” là không đúng, không đúng ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, và cũng không thể thực hiện được. Còn “ngụy nhào” là sự kết hợp giữa tác động từ bên trong với bên ngoài đánh vào, đánh trúng huyệt hiểm, cộng với quần chúng nổi dậy như thác vỡ bờ nên ngụy tự đổ. Phải nói cho rõ điều này, bởi vì ở thế kỷ XX, Mỹ nó mạnh quá, không ai dám đánh và giám thắng nó. Liên Xô cũng e ngại. Còn ở Triều Tiên, quân đội của Kim Nhật Thành cũng dũng cảm vô song như thế, Liên Xô cũng giúp như thế, Trung Quốc cũng đưa một triệu quân sang như thế, mà kết quả cũng không mỹ mãn. Bởi vậy nếu ta không nói cho rạch ròi, rõ ràng ra, thì thiên hạ, và nhất là các thế hệ sau này, họ bảo cuộc kháng chiến của ta có yếu tố thần thánh thật khó tin, và như vậy cộng sản là ma quỷ biến hoá chứ không phải là người thật. Không nói rõ ra thì các lớp trẻ sau này vừa thiếu niềm tin vào chính mình, vào dân tộc mình, vừa có tư tưởng sợ Mỹ, đề cao Mỹ.

Trong dịp ra miền Bắc năm 1969, tôi được đọc một số tài liệu mật, vừa đọc vừa đối chiếu với tình hình ở chiến trường thì thấy đúng! Càng đọc càng thấy rõ ý đồ chiến lược cả về chính trị, quân sự và kinh tế-xã hội của đối phương. Thực chất nó đã tập trung toàn những người giỏi để soạn thảo những văn bản này. Vậy mà rất tiếc, chúng ta đã không quán triệt kỹ các văn bản của Trung ương nói về âm mưu chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ nên chỉ quan niệm đơn giản “Việt Nam hoá là Mỹ cút, ngụy chủ trì”. Chính vì nghiên cứu không sâu nên khi nó thực hiện kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, đánh loang ra, lấn đất giành dân, thì mình bị hụt hẫng, còn họ thì cứ lấn tới. Rõ ràng, đế quốc Mỹ nó đổ của vào miền Nam Việt Nam không chỉ để kiếm lợi riêng ở miền Nam mà nó kiếm lợi ở cả châu Á và trên toàn cầu. Ý đồ của nó là tạo ra một ngụy quyền mạnh, mạnh cả về quân sự, chính trị và kinh tế, dưới nhãn hiệu “Quốc gia dân tộc”. Đây là ý đồ thật sự của nó, và nó sẽ viện trợ đầy đủ cho quân đội Sài Gòn cùng với những chính sách về ruộng đất, về xã hội... được nghiên cứu rất sát sao để thực hiện ý đồ này.

Lúc đó, tôi có dịp gặp anh Lê Duẩn và được anh cho biết: Mỹ tăng cố vấn và tăng viện trợ để thực hiện quyết liệt ý đồ “Quốc gia dân tộc”; nhưng bọn ngụy quyền vẫn tham nhũng và mâu thuẫn nhau nên chưa thực hiện được. Cả bộ máy quân sự khá đồ sộ-từ quân chủ lực tới quân địa phương, bảo an dân vệ, đến phòng vệ dân sự... đông, đồ sộ nhưng không mạnh. Anh Lê Duẩn nói: “Quyết không để cho quân đội Sài Gòn nó lại hồn, không để cho nó trấn tĩnh lại, phải chớp thời cơ càng nhanh càng tốt. Nếu một khi nó đã hết hoang mang, ổn định tinh thần rồi thì mình sẽ khó vô cùng. Nếu kế hoạch cơ bản về “Việt Nam hoá” của nó mà làm được 70% thì ta sẽ khó khăn. Lúc đó nếu còn chiến tranh thì sẽ trở thành “nội chiến”; mà đã như thế thì nó sẽ diễn ra như thế nào, không ai lường trước được”. Để tâm nghiên cứu tình hình một chút thì thấy rất rõ là từ giữa năm 1973 đến đầu 1974, nó đã bắt đầu thí điểm thực hiện kế hoạch ở một số vùng ven đô. Bởi vậy Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã chỉ rõ: Nhằm lúc Mỹ rút nhưng chưa rút xong và không thể quay lại, ngụy ở lại thì chưa ổn định, đây là thời cơ tốt nhất để ta tổng tiến công và nổi dậy đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Thời cơ là vô cùng quan trọng. Thời cơ là sức mạnh.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, trong nước cũng có hai khuynh hướng: Một khuynh hướng kiên quyết chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Một khuynh hướng thì thấy rằng Mỹ mạnh quá, không thể đánh được, nếu đánh nó thì nguy cho cả miền Bắc; thôi thì trước mắt hãy bảo vệ và xây dựng miền Bắc vững mạnh để chờ thời cơ!

Nhưng, sau khi có Hiệp định Paris (1973), Mỹ quyết định phải rút nhưng chưa rút xong; chưa rút xong nhưng cũng không thể quay lại được. Ngụy thực hiện ráo riết “Việt Nam hoá” nhưng thực chất mới hình thành cái khung, chưa triển khai được nhiều. Khi ta đánh “đòn thăm dò chiến lược”, nó không dám phản ứng lại. Thì đây là thời cơ ta tổng tiến công và nổi dậy giải quyết dứt điểm cuộc chiến tranh. Và, có thể nói đến cuối 1974, trước cuộc tổng tiến công 1975 thì ở trong nước và cả quốc tế đều thống nhất “Đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”- nó đã thật sự tạo ra nhảy vọt. Lúc này thật sự là “Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nước, đoàn kết quốc tế”, không ai còn có ý kiến gì khác. Đây là điều rất quý, là thời điểm vàng ngọc, nó thật sự đã tạo ra sức mạnh - Sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế lớn vô cùng! Đây là sức mạnh tuyệt đối của cả nước hội tụ lại. Nếu để chậm một chút thì chưa chắc đã còn sức mạnh như thế. Chậm một tháng là chậm một năm. Mà chậm một năm thì chưa biết sẽ thế nào! Khi Bác Hồ còn sống, Bác dù rất mong muốn nhưng chưa làm được vì thời cơ chưa đến. Bấy lâu tôi cứ suy nghĩ là có lẽ trước lúc đi xa, Bác Hồ muốn vào thăm đồng bào và chiến sỹ miền Nam, không chỉ để gặp gỡ, động viên, mà còn để quan sát, nghiên cứu, từ đó định ra thời cơ cho cách mạng. Suốt bao ngày đêm Người đau đáu việc giải phóng miền Nam. Suốt bao tháng năm toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đã dồn hết "Tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải" cho nhiệm vụ trọng đại này, cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng toàn thắng.

Thắng lợi trọn vẹn của chúng ta có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân to lớn nhất, cơ bản nhất, gốc rễ nhất là tư tưởng "Nhân ái". Tư tưởng "Nhân nghĩa" của thời đại Hồ Chí Minh là bắt nguồn truyền thống chí nhân chí nghĩa của dân tộc, như Nguyễn Trãi từng viết trong "Đại Cáo Bình Ngô" - "Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo". Tư tưởng nhân nghĩa là một yếu tố cơ bản trong nền Văn hoá của dân tộc, nó chuyển hoá thành lời, trong ý nghĩ thành tư tưởng chiến lược; tư tưởng này đã kết tinh trong thời đại của chúng ta là ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác đã dạy chúng ta: "Đánh cho Mỹ rút, ngụy sụp đổ" chứ Bác không bao giờ nói "Đánh tiêu diệt". Thể hiện tư tưởng này, sau Bác Hồ là đồng chí Lê Duẩn, và rồi tư tưởng đó nó đã chuyển hoá vào đa số chiến sỹ và đồng bào cả nước thể hiện ở chỗ trong chiến tranh, khi bắt được tù binh đối phương, ta đã thả hết, kể cả lính và sỹ quan Mỹ và các nước chư hầu, kể cả ác ôn, kể cả ở cuộc chống Pháp trước kia và chống Mỹ vừa qua. Chính điều này nó đã thấm vào tâm can người dân nước đó, và người dân họ thấy rằng chính phủ nước họ đem quân sang đánh Việt Nam là vô đạo lí. Từ chỗ họ không hiểu về đất nước và con người Việt Nam, đến chỗ họ hiểu và thấy thương người Việt Nam, thông cảm và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để chúng ta giành thắng lợi. Đối với quân đội Sài Gòn, khi đối mặt trên chiến trận thì buộc chúng ta phải chiến đấu để tự vệ và để bảo vệ thành quả của cách mạng; nhưng chúng ta luôn tâm niệm họ cũng là người Việt Nam, mà ta vẫn muốn cùng là người Việt thì phải thương nhau, cùng nhau xây dựng đất nước. Bởi vậy chúng ta không có hận thù, trả thù gì cả. Hơn nữa đồng bào ta đã đi theo Bác Hồ, theo cách mạng lâu nay rồi, nên khi họ bị bắt buộc đứng trong hàng ngũ của phía bên kia nhưng trong lòng họ vẫn là tinh thần dân tộc; bởi vậy khi có thời cơ là họ bỏ chạy hàng loạt. Chỉ tính riêng năm 1969, tức là ngay sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân của ta, quân số đào ngũ của quân đội Sài Gòn là 107.000 người. Tại khu vực ba huyện địa bàn tác chiến của Trung đoàn 1 Quân khu 9 trong đợt chiến đấu đánh bại kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ" của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu năm 1973, có ngày quân đội Sài Gòn rã ngũ tới một tiểu đoàn. Họ hiểu được thế chính nghĩa của ta, thấy được sự đối xử nhân nghĩa của chúng ta, chính đây là một nguyên nhân quan trọng để "ngụy nhào". Cũng có một số do Pháp trước kia và Mỹ sau này nó nhồi sọ nên trở thành ác ôn phản động. Nhưng trước thực trạng lính quân đội Sài Gòn bị bắt buộc bỏ ngũ hàng loạt, thì số này nhanh chóng trở thành bị cô lập; hoặc là tự sát, hoặc là bỏ chạy; số không chạy được ta chỉ yêu cầu họ học tập cải tạo chứ không hề giết ai nên dần hiểu được chính nghĩa của ta, đây là nguyên nhân để "ngụy nhào", 1,1 triệu quân mà tan rã tại chỗ.

Sự ngoan cố và dã tâm của Mỹ còn thể hiện ở chỗ: Tháng 5-1975, khi thua trận hoàn toàn ở Việt Nam rồi, thì ngay sau đó, tháng 10-1975 lại câu kết với một thế lực khác để dùng bọn tay sai Pôn Pốt ở Cam-phu-chia đánh phá và bao vây Việt Nam, giết hại rất dã man đồng bào ta ở các địa phương dọc tuyến biên giới Tây Nam. Và, một lần nữa, chúng ta lại buộc phải chống lại và đánh thắng sự đánh phá tàn bạo ấy.

Trong suốt cuộc trường chinh giúp Bạn ở Campuchia, Quân tình nguyện và Đoàn chuyên gia Việt Nam cũng luôn thấm nhuần tư tưởng nhân ái Hồ Chí Minh, đã không lấy việc bắt người, giết người làm mục đích, mặc dù quân Pôn Pốt nó đã bắt và giết hàng triệu người, đã và đang đẩy cả một dân tộc vào hoạ diệt chủng. Chúng ta không hận thù và trả thù, mà chỉ làm binh vận để lính Pôn Pốt bó ngũ rã ngũ là chủ yếu. Suốt mười năm giúp Bạn, ta chỉ có một lần sai phạm ở Xiêm Riệp, do thông tin sai lệch và do ấu trĩ, ta đã bắt nhầm, nhưng khi phát hiện ta đã thả ngay, đã cử đại diện lãnh đạo cấp cao sang xin lỗi Ban lãnh đạo của Bạn và đến thăm hỏi, tặng quà từng gia đình; nghĩa cử này được Bạn đánh giá rất cao. Chính tư tưởng "Nhân ái" đã xuyên suốt trong ý nghĩ và hành động nên chúng ta đã hoàn thành sứ mệnh vẻ vang là "Cứu nguy một dân tộc" thoát khỏi hoạ diệt chủng tàn bạo như thời trung cổ và "Hồi sinh một đất nước" từ đổ nát, xơ xác tiêu điều. Nghĩa cử cao cả này không những được Quốc vuơng Campuchia Xi-ha-nuc, được Vua Campuchia và nhân dân Campuchia quý trọng, đánh giá rất cao, nói rằng "Bộ đội tình nguyện Việt Nam là Bộ đội Nhà Phật", mà nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới cũng ghi nhận và đánh giá cao. Sự kiện này mang một ý nghĩa quốc tế, một ý nghĩa dân tộc vô cùng lớn, không có giá trị nào tính được.

Chính vì không hề có cuộc trả thù “tắm máu” nào, đội quân đội Sài Gòn và bộ máy chính quyền Sài Gòn tan rã tại chỗ nên các đô thị của miền Nam hầu như nguyên vẹn, không bị tàn phá. Kết thúc chiến tranh có người thắng kẻ thua nhưng không hề có sự trả thù và phục thù gay gắt. Đây là yếu tố tiên quyết, là cơ sở nền tảng cho sự ổn định chính trị để đất nước đứng vững và phát triển đi lên. Bởi vậy tôi cho rằng để giành được thắng lợi thì có nhiều yếu tố, trong đó "Nhân ái" là cái gốc để thắng lợi được bền lâu. Và trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vỹ đại vừa qua thì thắng lợi là thắng lợi của toàn dân tộc, đã là người Việt Nam thì không hề có kẻ bại, mà ai cũng là người chiến thắng. Số ngụy quân, ngụy quyền kể cả ở trong nước và đi di tản, phần lớn bây giờ đã và đang hướng về Tổ quốc từ chính sách nhân ái này. Đây là điều minh chứng hùng hồn và sinh động cho cụm từ "Đoàn kết dân tộc", “Chiến thắng trọn vẹn” của cách mạng Việt Nam. Một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại nhất trong thế kỷ XX của nhân loại tiến bộ toàn thế giới!

Tôi được biết, trong hai ngày 10 và 11 tháng 3 năm 2006 vừa qua, tại thành phố Boston, Hoa Kỳ, đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học mang tên "Việt Nam và các đời Tổng thống" do Thư viện Tổng thống Kennedy phối hợp cùng Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ tổ chức. Tham dự Hội thảo là các nhà sử học hàng đầu cùng một số nhân vật nổi bật nhất từng ảnh hưởng đến những quyết định về cuộc chiến tranh Việt Nam. Cuộc hội thảo nhằm nhìn lại chuyện vì sao nước Mỹ đã dính líu vào Đông Dương cách đây nửa thế kỷ; phân tích vai trò của các vị Tổng thống Mỹ trong cuộc chiến, nguyên nhân và lý do đưa tới thất bại của Mỹ ở Đông Nam Á, đồng thời nghiên cứu những bài học đã ghi nhận được từ sự dính líu đầy tai hoạ của Mỹ và liệu Mỹ có ứng dụng được bài học nào vào cuộc chiến I-rắc hiện tại hay không. Tôi cũng được biết, trong cuộc hội thảo thú vị này, đã có khá nhiều ý kiến nhìn nhân cuộc chiến tranh một cách khá khách quan và sâu sắc. Chẳng hạn như ngài Jack Valenti (người đã từng phục vụ trong chính phủ của Tổng thống Johnson) đã cho rằng: "Không vị Tổng thống nào có thể giành thắng lợi một cuộc chiến tranh khi sự ủng hộ của công chúng bắt đầu suy giảm và tan biến". Và: "Điều cơ bản mà tôi học được là ta không thể nào tham chiến mà không có sự ủng hộ của công chúng. Điều thứ nhì là dù có một đạo quân hùng mạnh đến đâu chăng nữa đi chinh phục một nước ngoài, ta không thể nào thắng được một cuộc kháng chiến bắt nguồn từ dân chúng bản địa với những truyền thống, tôn giáo và văn hoá của họ…" Những nhận định kể trên đã khiến những người tham dự thảo luận về việc liệu những bài học rút ra từ cuộc Chiến tranh Việt Nam có được để ý đến ở Trung Đông hiện tại, là nơi Hoa Kỳ đang lãnh đạo cuộc Chiến tranh I-rắc hay không?

Như vậy đủ thấy rằng, chiến tranh Việt Nam lùi vào lịch sử đã 31 năm, nhưng ý nghĩa của nó vẫn còn nguyên giá trị. Việt Nam là dân tộc tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên toàn thế giới. Việt Nam là lương tâm của thời đại, là niềm hy vọng của quá khứ, hiện tại, của các thế hệ tương lai không chỉ của Việt Nam mà của toàn thế giới. Đảng ta, Nhân dân ta càng tự hào về mình bao nhiêu, càng kiên quyết nhìn rõ mình bấy nhiêu để tránh và chống những sai lầm, để không ngừng phấn đấu vươn lên trở thành một đất nước cường thịnh và văn minh, sánh ngang hàng với các nước tiên tiến trên khu vực và thế giới, mãi mãi xứng đáng với niệm tin yêu, niềm hy vọng của các thế hệ trẻ Việt Nam và bè bạn khắp năm châu.

Hà Nội ngày 27-4-2006

  • Lê Đức Anh

-----------------
(1) Từ tháng 2 đến tháng 12-1973, trên chiến trường Tây Nam Bộ, ta đã gỡ 633 điểm, diệt 284 điểm (Trong đó địa phương quân của tỉnh và huyện diệt 175 điểm, du kích và địch vận diệt 10 điểm, khởi nghĩa 25 điểm, nội ứng gỡ 39 điểm, bức hàng 4 điểm và bức rút 349 điểm... Ta giải phóng thêm 39 vạn dân. Trong Khu 9 có 9 xã hoàn toàn giải phóng, 8 xã giải phóng cơ bản với 761 ngàn dân. Nếu kể thêm những vùng mà dân làm chủ với nhiều mức độ thì toàn Khu đã có 1 triệu 400 ngàn dân được giải phóng, so với ngày đầu tôi và anh Kiệt xuống Khu 9, ta chỉ có chưa đến 2000 dân)

(2) Thông báo ngày 1/5/1974 của Bộ chỉ huy Miền do đồng chí Tư Nguyễn (Trần Văn Trà) ký. Nội dung: Bộ chính trị TW Đảng đã quyết định và Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã kí Sắc lệnh số 21/LCT ngày 16/4/1974 thăng cấp quân hàm từ Sư đoàn bậc trưởng lên Trung tướng cho đồng chí Lê Đức Anh.

Việt Báo
Comment :Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Giai doan cuoi cua cuoc chien tranh ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục Phóng Sự
last stage of the war
Vietnam, The Mango, Phuoc Long, Le Duan, Long An, Xuan Loc, the Mekong Delta, Ho Chi Minh Campaign, Armed Forces, Government of Sai Gon Liberation of the South, the commander, war, offensive, Paris Agreement, the enemy, see
Quote Memoirs of General Le Duc Anh, former Deputy Commander Command Ho Chi Minh Campaign Spring 1975, the former chairman of the Socialist Republic of Vietnam ..
Nghề shipper và những vụ bị khách quỵt tiền
Nghề shipper và những vụ bị khách quỵt tiền

Kinh doanh online phát triển cũng là lúc thời đại của các shipper lên ngôi. Do nhu cầu mua hàng online của người dân ngày càng cao nên các shipper không bao giờ lo thiếu việc, nếu khéo sắp xếp, vận chuyển nhiều đơn hàng có thể cho thu nhập vài trăm ngàn/ngày.

  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • viet bao
  • Thoi su 24h267 An mang dau long tu viec ly hon gia hoa that
    Thời sự 24h(26/7): Án mạng đau lòng từ việc ly hôn giả hóa thật

    Sự thật sốc về cô gái “hở bạo” tiếp thị Bệnh viện thẩm mỹ Kangnam; Mẹ nạn nhân bị cưa chân phản bác kết luận của Sở Y tế; Vụ trao nhầm con: Nước mắt vẫn chưa ngừng rơi!; Người đàn ông bỏ xe bánh mỳ, nhảy sông Đà vì bị truy sát?; Bệnh nhân phải đóng trước 220 nghìn mới được đi vệ sinh ở bệnh viện

  • Thoi su 24h257 Can bo hon nguc nang Biang
    Thời sự 24h(25/7): Cán bộ hôn ngực nàng Biang

    Kẻ "gạ tình" người mẹ liên quan gì đến vụ cháu bé bị mất tích ở Long Biên?; Vụ xả thải: Bộ TNMT thông báo nóng với Formosa; Ông bố đập sữa trước cửa siêu thị: "Đã mua chịu lại còn kiếm chuyện"; Cán bộ hôn ngực nàng Biang: Xử lý đúng quy trình; Ngày con dâu bỏ đi, bố mẹ chồng khóc cạn nước mắt thương 5 cháu nhỏ

  • Thoi su 24h217 Cong ly nao cho nguoi vo mang noi dau tot cung
    Thời sự 24h(21/7): Công lý nào cho người vợ mang nỗi đau tột cùng

    Đình chỉ hay khen thưởng CSGT "giơ chân" cản người phạm luật?; Xót xa những vụ tự tử vì bệnh tật và tận cùng nghèo khó; "Rác thải Formosa tràn lan, trách nhiệm chính thuộc xã, phường"; Vụ cô gái bị chồng thiêu: Công lý nào cho người vợ đang mang nỗi đau tột cùng?; Mổ nhầm chân: chuyên môn yếu kém hay tắc trách?

  • Thoi su 24h197 Dung sung bat tre em cuop taxi
    Thời sự 24h(19/7): Dùng súng bắt trẻ em, cướp taxi

    Phía sau bản án tử của Vũ Văn Tiến: Con dại một lần, mẹ đau một đời; Hà Nội sẽ trồng cây phượng hoa màu tím, nở quanh năm; Mưa xô ngã cầu bêtông tiền tỷ: Quy trình trách nhiệm; Vụ chất thải Formosa: Doanh nghiệp nói khác Sở TNMT?; Chiếu laser Nội Bài: Phát hiện thủ phạm nhưng khó xử lý

  • Thoi su 24h187 Lo duong day gai goi chan dong showbiz
    Thời sự 24h(18/7): Lộ đường dây gái gọi chấn động showbiz

    Thực phẩm bẩn: Nghịch cảnh con người đang âm thầm giết hại nhau; Vụ chất thải Formosa: Thêm nhiều mâu thuẫn giật mình; Ân hận của người mẹ mỗi đứa con sinh ra của... một ông bố khác nhau; Bác sĩ ra chợ quyên tiền cứu bệnh nhi: Đời xấu xa sao cây táo nở hoa?; Cá hồ chết bốc mùi thối, cả khu phố bịt khẩu trang suốt ngày

  • Thoi su 24h147 Bi ban than cua bo hiep dam den mang thai
    Thời sự 24h(14/7): Bị bạn thân của bố hiếp dâm đến mang thai

    Formosa tự đổi công nghệ luyện cốc: Hành vi tội ác; Uất ức lời kể 5 ngư dân bị tàu TQ đâm chìm tàu ở Hoàng Sa; Nghi án mẹ ép con gái uống thuốc trừ sâu để cùng chết; Bàng hoàng phát hiện suốt 3 năm nuôi nhầm con của 1 gia đình ở cách nhà mình 5 km; Tiếp viên ở quán karaoke ăn mặc mát mẻ, ngồi trên đùi khách rót bia

  • Thoi su 24h137 Chong thieu song vo vi bi can nhan
    Thời sự 24h(13/7): Chồng thiêu sống vợ vì bị cằn nhằn

    Thực hư chuyện 'bố đi hát karaoke gặp đúng con gái làm dịch vụ'; "Bảo kê" xe cấp cứu: Bộ trưởng Y tế vào cuộc quá chậm?; Vụ chôn rác thải Formosa trong trang trại của Giám đốc: Có sai luật?; Tạm giữ nhóm "quái xế" cùng 20 chân dài mặc mát mẻ phục vụ karaoke; 10 năm, gần 60 ngàn tỷ đồng tham nhũng nhưng chỉ thu hồi được 4,6 ngàn tỷ

  • Thoi su 24h127 Vo bop cua quy khien chong chet tuc tuoi
    Thời sự 24h(12/7): Vợ bóp của quý khiến chồng chết tức tưởi

    Phạt 100 triệu phòng khám "mạo danh" Sở Y tế HN "chặt chém" khách; Xe cứu thương ngoại tỉnh phải “mua” bệnh nhân ở Hà Nội?; Formosa lén lút chôn chất thải ở trang trại của Giám đốc Công ty Môi trường; Gây bức xúc lớn, các dự án giao thông BOT được Quốc hội đưa vào giám sát; Vụ gần 400 GV ở Thanh Hóa mất việc: 50-100 triệu đồng chạy làm GV hợp đồng?

  • Thoi su 24h117 Co gai tre xinh dep tu vong ben ve duong
    Thời sự 24h(11/7): Cô gái trẻ xinh đẹp tử vong bên vệ đường

    Sự cố môi trường Formosa: Xác định hàm lượng độc tố dưới đáy biển; Thuê giúp việc 6 triệu/tháng, chủ nhà phẫn nộ vì em bé bị véo tai, ăn tát; Nhà máy làm chết cá đầu nguồn sông Đà không có khu xử lý nước thải; Từ vụ chặn xe cấp cứu: Bảo vệ bệnh viện hay lực lượng..."bảo kê"?; Dọa đuổi ông lão xuống xe, nhân viên xe buýt bị đình chỉ việc

  • Nghin le chuyen tuan qua 1707 23072016
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua 17/07 - 23/07/2016

    Đau chân trái bác sĩ mổ nhầm chân phải; CSGT giơ chân, người đi xe máy lao dải phân cách; Cán bộ giao thông trách mắng người dân vì tự ý vá đường; Bé gái 4 tuổi mất tích bất ngờ, gia đình kêu gọi giúp đỡ ... là những tin tức xã hội nổi bật được dư luận quan tâm trong tuần qua.

  • Su kien quoc te noi bat 177237
    Sự kiện quốc tế nổi bật (17/7-23/7)

    Khủng bố trung tâm mua sắm ở Munich làm 10 người thiệt mạng; Samsung xin lỗi vì những clip mua dâm của chủ tịch Lee; Trump chính thức nhận đề cử tổng thống; Trung Quốc ngang ngược tuyên bố tiếp tục cải tạo tại Biển Đông là những tin chính trong tuần qua.

  • Ban tin Suc khoe tuan qua 177 237
    Bản tin Sức khỏe tuần qua (17/7- 23/7)

    Bị thương chân trái, mổ nhầm chân phải: BV Việt Đức nói gì; Hai bé sơ sinh dính liền ở Hà Giang đã mất; Siêu âm thai bình thường, sinh con bị dị tật: Bài học nào cho bố mẹ; Vợ thờ ơ với 'chuyện ấy', lí do là ở chồng;... là những thông tin Sức khỏe được quan tâm nhất tuần qua.

  • Tong Hop Doi Song Tuan Qua 170724072016
    Tổng Hợp Đời Sống Tuần Qua (17/07-24/07/2016)

    Hàng loạt những sản phẩm kém chất lượng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng được phát hiện . Bài toán chi tiêu gia đình, cùng những câu chuyện gia đình, vụ đánh ghen ầm ĩ làm ta giật mình trước lối sống ngày nay, là các thông tin nổi bật nhất tuần.

  • Toan canh kinh te tuan 1707 23072016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (17/07 - 23/07/2016)

    'Đại án' 9000 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng, lương của các sếp tập đoàn gần nửa tỷ đồng, giá xăng điều chỉnh giảm mạnh, vấn nạn cà phể bẩn, tăng trưởng tín dụng tiếp tục có con số mới ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Nghin le chuyen tuan qua 1007 16072016
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua 10/07 - 16/07/2016

    Formosa chôn 100 tấn chất thải tại Hà Tĩnh; Ngư dân bàng hoàng kể tàu TQ tông chìm tàu cá ở Hoàng Sa; Cô giáo Sài Gòn bị tố tán tỉnh nam sinh lớp 8; 3 năm nuôi nhầm con của 1 gia đình ở cách nhà mình 5 km ... là những tin tức xã hội nổi bật được dư luận quan tâm trong tuần qua.

  • Su kien quoc te noi bat 107167
    Sự kiện quốc tế nổi bật (10/7-16/7)

    Toà PCA ra phán quyết Trung Quốc không có chủ quyền lịch sử ở Biển Đông; Tân Thủ tướng Anh Theresa May công bố danh sách nội các mới; Khủng bố đẫm máu đúng Quốc khánh Pháp; Đảo chính thất bại ở Thổ Nhĩ Kỳ... là những tin chính trong tuần qua.

  • Ban tin Suc khoe tuan qua 107 167
    Bản tin Sức khỏe tuần qua (10/7- 16/7)

    Ổ bệnh bạch hầu đang bùng phát mạnh tại Bình Phước; Bác sĩ ra chợ xin từ thiện cứu 2 bé song sinh dính liền; Cảm động câu chuyện về sản phụ ung thư phổi quyết giữ thai nhi; Mách bạn bài thuốc điều trị sẩy thai từ hàng trăm năm trước;... là những thông tin Sức khỏe được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 1007 16072016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (10/07- 16/07/2016)

    Lại nóng chuyện huy động 500 tấn vàng trong dâm, lãi suất tiêu dùng lên tới 70-80%/năm, EVN chiếm hơn 1/3 tổng số nợ mà Chính phủ phải bảo lãnh, nhiều ngân hàng báo lãi khủng trong quý II, kiểm tra xử phạt hàng loạt công ty đa cấp... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là nhữ