|
Ngày 31/5, Ngân hàng Thế giới (WB) chính thức công bố báo cáo “Tài chính phát triển toàn cầu 2006” (Global Development Finance 2006) trong đó cung cấp cơ sở dữ liệu, phân tích, dự báo về các dòng chảy vốn đổ vào các nước đang phát triển.
 |
|
Theo báo cáo Tài chính phát triển 2006 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam được đánh giá cao về tăng trưởng kinh tế, thu hút được nhiều vốn ODA, có tỷ lệ đầu tư/GDP tăng cao đều đặn... nhưng vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp.
|
Báo cáo được xem như một trong những cơ sở quan trọng để các nước đang phát triển như Việt Nam tìm cách thu hút nhiều hơn nữa vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và đầu tư trực tiếp (FDI) từ nước ngoài.
Báo cáo cho biết, năm 2005 dòng chảy vốn tư nhân toàn cầu đổ vào các nước đang phát triển tăng ở mức kỷ lục, đạt 491 tỷ USD (tăng 94 tỷ USD so với năm 2004), bất chấp những ảnh hưởng xấu của giá dầu và các nguyên liệu đầu vào tăng cao. Đây là kết quả của những vụ tư nhân hoá, liên danh liên kết, ngân hàng tăng nguồn vốn cho vay…
Theo báo cáo "Tài chính phát triển toàn cầu 2006" của WB, Việt Nam được đánh giá cao về tăng trưởng kinh tế, thu hút được nhiều vốn ODA, có tỷ lệ đầu tư/GDP tăng cao đều đặn... nhưng vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp.
Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia ghi dấu ấn về tăng trưởng
Theo báo cáo, tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Á - Thái Bình Dương trong năm 2005 vừa qua đạt 8,8%, thấp hơn mức 9,1% của năm 2004. Trong đó, nền kinh tế Trung Quốc tăng rất mạnh ở mức 9,9% do xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh trong khi nhập khẩu giảm.
Các nước khác trong khu vực có mức tăng trưởng GDP khiêm tốn hơn ở mức 5,3% do nhập khẩu của Trung Quốc và nhu cầu toàn cầu về công nghệ cao suy giảm trong khi giá dầu tăng cao làm giảm xuất khẩu của các nước này. Trong số các nước nhập khẩu dầu lớn ở khu vực, Philippines và Thái Lan có tốc độ tăng trưởng GDP giảm tương đối mạnh. Đối với các nước xuất khẩu dầu trong khu vực, Malaysia có tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, chỉ có Việt Nam cùng Indonesia ghi dấu ấn về tăng trưởng.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế gần đây, các nhà đầu tư trên thế giới tỏ ra lạc quan với việc Việt Nam được coi là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định thứ hai châu Á, chỉ sau Trung Quốc. Theo số liệu của Chính phủ Việt Nam, từ năm 2000 đến nay, kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 7,5%, riêng năm 2005 tăng trưởng 8,4% và Việt Nam đang trở thành “mảnh đất lý tưởng” của các nhà đầu tư nước ngoài.
Đến nay, hầu như toàn thế giới biết đến công cuộc cải cách đổi mới ở Việt Nam. UNDP còn coi Việt Nam là một trong những ví dụ thành công nhất về chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại, đổi mới làm thay đổi gần như tất cả mọi mặt của cuộc sống kinh tế.
Trong các báo cáo đưa ra tại hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) diễn ra cuối năm ngoái, các chuyên gia kinh tế của WB cũng đã đánh giá cao thành công của Việt Nam về tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong năm qua, bất chấp nhiều khó khăn, tác động xấu từ bên ngoài.
Giám đốc WB tại Việt Nam Klaus Rohland lúc đó đã khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng và kết quả về tăng trưởng kinh tế trong năm 2005 chứng tỏ Việt Nam đã làm tốt công việc của mình".
Tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam cao thứ 3 thế giới
Không chỉ tăng trưởng về GDP, tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam cũng tăng mạnh theo. Trong giai đoạn 2002 - 2004, tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam đạt trung bình 34,2%, chỉ đứng sau Arzerbajan (45,6%) và Trung Quốc (43,2%).
Tỷ lệ đầu tư/GDP của Việt Nam cũng đã tăng đều trong hơn 10 năm trở lại đây. Cụ thể, trong giai đoạn 1994 - 1996, tỷ lệ đó đạt 26,9%. Đến giai đoạn 1999 - 2001 là 29,5%, trước khi lên vị trí thứ 3 như đã nói trên.
Có được điều đó một phần là do những chính sách thúc đẩy đầu tư của Việt Nam trong thời gian qua, từ việc sửa đổi các bộ luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư... cho tới việc không ngừng cải cách thủ tục hành chính, khuyến khích sản xuất các mặt hàng mũi nhọn, thành lập các khu liên kết phát triển kinh tế, đầu tư, thương mại...
Theo các nhà quan sát cũng như chuyên gia kinh tế quốc tế, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986), Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng trong sản xuất, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư, chính sách tiền tệ và ngoại thương. Chính sách đổi mới mở ra nhiều phương thức tổ chức và quản lý kinh tế mới mẻ, góp phần cải thiện đời sống; tạo ra nguồn động lực sáng tạo cho hàng triệu người Việt Nam có dịp sử dụng một cách hiệu quả tiềm năng của mình.
Trong sự thay đổi lớn trong dòng chảy vốn của thế giới những năm vừa qua, khi vốn đổ vào các nước đang phát triển ngày một tăng, thì Việt Nam cũng là một điểm đến quan trọng. Nhờ những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô tốt hơn, năng lực hội nhập cải thiện đáng kể mà chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam, giờ đây đã thích ứng rất nhanh và thu hút lượng vốn vượt bậc.
Vốn ODA cho Việt Nam tăng cao đều đặn
Vốn ODA cho Việt Nam những năm vừa qua đã tăng cao đều đặn, góp phần lớn trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Nếu như trong giai đoạn từ năm 1990 - 1999, Việt Nam không nằm trong Top 10 các nước thu hút được nhiều ODA nhất thế giới thì trong các giai đoạn sau, nhóm đó luôn có sự góp mặt của Việt Nam.
Cụ thể, trong giai đoạn 2000 - 2002, Việt Nam đã leo lên đứng thứ 6 trong Top 10 các nước thu hút được nhiều ODA nhất thế giới. Và đến giai đoạn gần đây nhất, từ năm 2003 - 2004, Việt Nam đã leo lên đứng thứ thứ 5, chỉ xếp sau Iraq, Cộng hoà Dân chủ Congo, Afghanisstan và Trung Quốc.
Nguyên nhân đầu tiên là do các nước giàu tăng cường viện trợ để giúp các nước đang phát triển tăng cường tham gia thương mại với thế giới, tự do hoá thương mại hơn nữa, qua đó giúp hàng hoá của các nước giàu bớt gặp rào cản, mang lại doanh thu và lợi nhuận lớn hơn. Vốn viện trợ cũng làm các nước giàu có được tiếng nói lớn hơn nữa trong các cuộc đàm phán thương mại với các đối tác khác.
Về phần mình, các nước cũng đã rất tích cực và có nhiều nỗ lực hiệu quả trong việc thu hút ODA. Như trường hợp của Việt Nam là nhờ một phần rất lớn vào việc các nhà đầu tư quốc tế tin tưởng vào tương lai sáng sủa của nền kinh tế nước này sau khi chứng kiến những năm đổi mới vừa qua.
Chính vì vậy mà các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế như gần đây liên tiếp nâng mức xếp hạng của Việt Nam. Năm ngoái tổ chức định mức tín nhiệm nổi tiếng thế giới là S&P đã nâng mức tín nhiệm của Việt Nam từ BB- lên BB. Moody cũng nâng lên mức Ba3 trong khi một tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế nổi tiếng khác là Fitch cũng nâng Việt Nam lên hạng BB-.
Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp
Tuy có nhiều mặt tích cực như vậy song trong báo cáo "Tài chính phát triển toàn cầu 2006" của WB, Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có thu nhập thấp của thế giới, đứng cùng các nước khác như Campuchia, Triều Tiên, Lào, Myanmar, Mông Cổ, Đông Timor...
Nhóm nước có thu nhập thấp trong báo cáo này chủ yếu là các nước đến từ khu vực châu Phi vùng Hạ Shahara và một số nước Trung Á, Nam Á, các nước Trung Đông đang trong xung đột, chiến tranh. Nền kinh tế đang lên và gây chú ý cho thế giới là Ấn Độ cũng thuộc nhóm nước có thu nhập thấp của thế giới.
Trong khi đó, những nước láng giềng của Việt Nam đã thoát nhóm có thu nhập thấp và gia nhập nhóm có thu nhập trung bình như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Phillipines....
Đặc biệt, Brunei, Singapore, Lãnh thổ Đài Loan và đặc khu Macao, Hồng Kông đã gia nhập nhóm có thu nhập cao cùng với các cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới.
Các tập đoàn lớn mới nổi sẽ có lợi khi vào Việt Nam
Nhìn chung là vậy, còn theo phân tích của các chuyên gia kinh tế ghi trong báo cáo Tài chính phát triển 2006 của WB, các tập đoàn lớn mới nổi sẽ rất có lợi khi đầu tư vào làm ăn tại những nước đang phát triển mạnh mẽ như Việt Nam.
Theo đó, các tập đoàn lớn mới nổi tới từ các quốc gia như Trung Quốc hay Ấn Độ sẽ có lợi thế hơn rất nhiều so với các tập đoàn đa quốc gia đến từ các nước công nghiệp phát triển.
Nguyên do là các tập đoàn lớn mới nổi có hệ thống phân phối thuận lợi hơn do đã quen với phong cách tiêu dùng và bán hàng nơi đây. Họ cũng quen với việc dùng các nguyên liệu đầu vào giống với những thứ có ở quê nhà nên không phải thay đổi công nghệ, bý quyết quá nhiều khi triển khai trên địa bàn mới. Hơn nữa, các tập đoàn lớn mới nổi cũng có thói quen bán hàng giá thấp, những mặt hàng chấp nhận được, rẻ hơn nhiều hàng cùng loại tới từ các nước công nghiệp phát triển.
Ví dụ được nêu trong báo cáo là TV mang thương hiệu TCL của Trung Quốc dễ dàng được chấp nhận tại Việt Nam, với tốc độ nhanh hơn nhiều các đối thủ trước đó. Bên cạnh đó là xe máy Trung Quốc tràn ngập Việt Nam nhiều năm qua và xe hơi nước này cũng được dự báo sẽ tràn vào thị trường láng giềng này trong ngày một ngày hai.
|