|
Bộ giải pháp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy chống lạm phát đang trở thành mục tiêu ưu tiên của chính sách tiền tệ năm 2008, tuy rằng ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN đã khẳng định: Mục tiêu của giải pháp cả gói này là nhằm kiềm chế lạm phát ở mức thấp hơn tăng trưởng kinh tế nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức cao.
Bộ giải pháp cả gói này liệu có đạt được một cú đúp như mong muốn hay không, còn phải chờ được thử lửa trong thời gian tới, nhưng trước mắt, nó đã gây ra những cơn choáng váng cho các ngân hàng thương mại (NHTM) và những nhà doanh nghiệp trong nước.
Đầu tiên, việc tăng tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc và yêu cầu các NHTM phải mua một số lượng lớn tín phiếu của NHNN, một biện pháp nhằm hạn chế khối lượng tín dụng cung ứng từ hệ thống NHTM với mục tiêu làm giảm khối tiền tệ nhằm chống lạm phát, đang gây ra một cú sốc lớn cho các ngân hàng vì ngay lập tức bị lâm vào tình trạng cạn kiệt thanh khoản. Trong cả hệ thống ngân hàng hiện chỉ có một vài ngân hàng chưa gặp tình trạng khan hiếm tiền đồng. Các ngân hàng khác, trong cơn dầu sôi lửa bỏng, đã có lúc phải vay trên thị trường liên ngân hàng với một lãi suất cao chưa từng có là 30%/năm.
Đứng trước nguy cơ toàn hệ thống ngân hàng khủng hoảng thanh khoản, theo nguồn tin báo chí, trong ba ngày kể từ 18-2-2008 NHNN đã phải bơm ra cho các NHTM 23 ngàn tỉ đồng, và dự kiến ngày 21-2 đưa ra thêm 10 ngàn tỉ đồng nữa nhằm giải tỏa cơn khát thanh khoản của hệ thống ngân hàng đồng thời làm giảm cơn sốt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng mà trên thực tế, do chính NHNN gây ra. Với việc bơm tiền khẩn cấp này, một nguồn tin thân cận trong giới ngân hàng cho biết, NHNN đã sử dụng gần hết một nửa hạn mức tiền đồng được phép đưa ra lưu thông trong năm 2008.
Đứng về mặt điều hành vĩ mô, việc tăng dự trữ bắt buộc để thu một lượng lớn tiền từ các NHTM là một trong những biện pháp chống lạm phát, nhưng sau đó NHNN bơm tiền ra thông qua thị trường mở là việc làm có vẻ rất khó hiểu. Nếu chỉ là kinh doanh tiền tệ thuần túy, NHNN có vẻ được lợi lớn qua các nghiệp vụ này vì lãi suất tín phiếu chỉ bằng một nửa so với lãi suất trên thị trường mở, nhưng điều này sẽ khó được cảm thông về mặt quản lý vì nguồn tiền được bơm ra hình như cũng là nguồn vốn được thu vào trước đó từ một quyết định hành chính.
Đứng về mặt kỹ thuật, việc rút tiền và bơm tiền trong một thời gian ngắn ngủi xem ra không có tác động lớn đối với mục tiêu làm giảm khối tiền tệ. Tuy nhiên, hệ quả của nó đối với các NHTM lại thấy rất rõ. Chi phí của các ngân hàng sẽ tăng lên qua việc phải vay NHNN với lãi suất cao - trong khi phải cho NHNN vay với lãi suất thấp (lãi suất tín phiếu NHNN dưới 8%). Nhiều NHTM cổ phần phải miễn cưỡng lao vào cuộc cạnh tranh nâng cao lãi suất tiền gửi tiết kiệm đầy rủi ro nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trước mắt, nhất là các ngân hàng nhỏ vì không thể trúng thầu trên thị trường mở.
Chẳng hạn, ngày 20-2-2008, NHNN cung ứng 15.000 tỉ đồng trên thị trường mở với lãi suất 15%/năm cho kỳ hạn 14 ngày, một lượng tiền cung ứng cao nhất từ trước đến nay và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã trúng thầu toàn bộ khối lượng tiền cung ứng nói trên. Lãi suất tiết kiệm tăng có nghĩa là lãi suất cho vay sẽ tăng. Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với chi phí tài chính tăng lên và điều này sẽ làm giảm hưng phấn của họ trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh. Phí tổn cao cũng sẽ làm năng lực cạnh tranh của họ giảm đi trên đấu trường thương mại quốc tế.
Giải pháp thứ hai mà NHNN đề ra là tiếp tục mua vào ngoại tệ để dự trữ trên cơ sở nguồn tiền cung ứng đã được duyệt, đồng thời hút tiền về bằng nhiều công cụ phù hợp với từng thời điểm, xem ra cũng chưa rõ ràng về mặt quản lý vĩ mô, tuy rằng cũng thể hiện một ý chí chống lạm phát, không để việc mua ngoại tệ làm tăng lượng tiền cung ứng vào nền kinh tế.
Tuy nhiên, điều này có nghĩa là NHNN sẽ chỉ mua vào một số lượng ngoại tệ tương ứng với khối lượng tiền đồng được phép cung ứng theo kế hoạch đã được Chính phủ duyệt trước. Nếu như thế, người ta có thể hiểu rằng việc mua ngoại tệ của NHNN đang được quan niệm là một quyền muốn mua thì mua chứ không phải là một nghĩa vụ của một ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào nhằm đảm bảo chủ quyền tiền tệ quốc gia đồng thời khắc phục tình trạng đôla hóa nền kinh tế. Hậu quả là các NHTM vẫn phải luôn luôn đối mặt với nguy cơ là sẽ có thời điểm - khi áp lực lạm phát tăng cao - NHNN có thể từ chối mua ngoại tệ vào, điều đã từng xảy ra trước đây.
Mặt khác, việc mua ngoại tệ dự trữ của NHNN lại còn có một điều kiện kèm theo là phải được thực hiện đồng thời với việc hút tiền về bằng nhiều công cụ phù hợp với từng thời điểm. Điều này có thể được hiểu là: (1) Việc đáp ứng tiền đồng cho các dòng vốn từ nước ngoài (FDI, FII), một hành động được xem là tạo ra nguy cơ lạm phát, sẽ được bù đắp bằng việc rút vốn tiền đồng từ các khoản đầu tư hay tín dụng trong nước và (2) Nếu không thể hút tiền về bằng các công cụ khác, NHNN có thể sẽ không tiếp tục mua ngoại tệ nữa. Đây chính là lý do khiến nhiều chuyên gia dự đoán là tỷ giá đồng bạc Việt Nam sẽ lên cao so với đồng USD, thêm vào đó, nguy cơ sụt giảm các khoản tín dụng và đầu tư của khu vực kinh tế tư doanh rất dễ trở thành hiện thực trong một tương lai gần.
Giải pháp thứ ba không để lãi suất âm được hiểu như NHNN sẽ theo đuổi trong một thời gian nhất định một chính sách thắt chặt tiền tệ, duy trì một mức lãi suất cao cho toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam. Trong khi chúng ta chưa thể xác định tỷ lệ lạm phát trong tương lai là bao nhiêu (chỉ có thể mong muốn là nó sẽ thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế), việc duy trì một chính sách lãi suất cao kéo dài sẽ làm cho phí tổn của các doanh nghiệp gia tăng, đồng thời làm cho các doanh nghiệp giảm bớt các khoản vay để phát triển sản xuất kinh doanh và thực hiện các dự án đầu tư mới. Điều này sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh và thị phần của họ trên thị trường quốc tế.
Một mức lãi suất cao sẽ làm tăng tiết kiệm và giảm tiêu dùng, những tác động làm giảm tốc độ lạm phát, nhưng đồng thời cũng sẽ làm mất đi các công ăn việc làm đang có và làm mất đi cơ hội tạo ra công ăn việc làm mới do các doanh nghiệp sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh. Một chính sách lãi suất đúng đắn cần có định hướng (loại tín dụng nào nên khuyến khích và loại nào không nên) mới có thể xác định được liều lượng (áp dụng mức lãi suất nào cho loại tín dụng nào) để tránh hệ quả đáng tiếc là chống lạm phát thành công nhưng lại tạo ra suy thoái.
Cuối cùng, trong bộ giải pháp, biện pháp củng cố lành mạnh hóa hệ thống tổ chức tín dụng và các định chế tài chính là biện pháp cần thiết, lâu dài nhưng cũng rất cần phải được triển khai càng sớm càng tốt. Điều này, tùy thuộc rất nhiều vào vai trò của một NHNN mạnh, có trách nhiệm trong việc xây dựng và triển khai chính sách tiền tệ. Nhưng một hệ thống NHTM mạnh không chỉ là một hệ thống tín dụng mạnh mà nhất thiết phải là một hệ thống thanh toán mạnh.
Nếu nền kinh tế không thể thực hiện được phần lớn các giao dịch thanh toán của nó qua hệ thống ngân hàng, các giải pháp thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN sẽ không thể triển khai hiệu quả để đạt các mục tiêu kinh tế vĩ mô, đặc biệt đối với mục tiêu ổn định giá cả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Liều thuốc hay để trị dứt các cơn bệnh thường là các liều thuốc đắng. Nhưng nếu thuốc đắng mà lại không trị được bệnh thì sẽ rất đau khổ cho người bệnh.
* .
* .
|
Viết phản hồi