|
Tags: Lê Lợi, Tư Đình, Cơ Xá, văn hóa dân gian, kiến trúc cổ, Cây bồ đề, di tích, Sông Hồng, tích cổ, một khúc, sự tích, khúc sông, làng, bãi Những di tích nằm trải dài đôi bờ sông Hồng đa phần là các di tích cổ. Sự tích cổ, kiến trúc cổ, tín ngưỡng cổ, tâm linh cổ, ấp ủ nhiều lễ hội cổ mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian Việt.
Nói sang bờ Tả ngạn, khởi đầu huyện Đông Anh là khu vực Đại Độ, Hải Bối... trong thời kỳ Hai Bà Trưng ở đây có các tướng lĩnh nghĩa quân như Hải Diệu, ả Lã nàng Đê mà đền miếu vẫn còn ở ven sông. Đến thời kỳ hiện đại, những năm 1936-1945 nơi đây là cơ sở của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1980 thành phố đã gắn biển kỷ niệm di tích cách mạng. Quán cơm bà Tấc ở cạnh cây gạo bên bến Bỏi, biển có ghi: “Quán cơm bà Tấc là trạm liên lạc bí mật của an toàn khu Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương từ 1941 đến 1945”.
Đi tiếp đến cửa sông Đuống. Trên ngã ba sông này xuôi xuống là làng Bắc Biên, phường Ngọc Thụy thuộc quận Long Biên. Nơi đây có đền thờ Lý Thường Kiệt và được coi là quê của vị anh hùng này. Năm 1010 vua Lý Thái Tổ lấy đất làm kinh đô nên dời dân ra bãi sông Cái, đặt tên là An Xá. Sau đổi là Cơ Xá. Ban đầu Cơ Xá gồm phần bãi sông từ Yên Phụ xuống tới Đồng Nhân và cả bãi nổi giữa sông. Sau do sông lở bồi nên một số sang bờ Bắc sông lập làng mới. Cho nên Cơ Xá chia ra là Cơ Xá Trung Hà (bãi giữa), Cơ Xá Bắc Biên, Cơ Xá Tây Biên (bãi Phúc Xá), Cơ Xá Nam (khu vực Nguyễn Huy Tự, Vân Đồn).
Cho đến những năm 1970, bãi Trung Hà vẫn có đền thờ Lý Thường Kiệt, sau thành phố giải tỏa bãi giữa nên dân Trung Hà đa số sang Bắc Biên. Vượt chân cầu Chương Dương đến một di tích quan trọng đó là doanh Bồ Đề. Nguyên tháng 2-1427, khi vây hãm thành Đông Quan, Lê Lợi cho chuyển đại bản doanh từ Đông Phù Liệt (Thanh Trì) lên đóng ở tả ngạn (tức bờ Bắc) nơi làng Bồ Đề - gọi thế vì có hai cây bồ đề mọc trên bến do đó cũng được gọi là doanh Bồ Đề.

Lê Lợi cho làm một lầu cao bên hai cây bồ đề, hàng ngày ông lên tầng nhất nhìn sang sông quan sát tình hình địch, Nguyễn Trãi ngồi ở hàng thứ hai soạn thảo thư trát. Chính tại đây Nguyễn Trãi đã soạn ra bài văn Hội thề Đông Quan tháng 12-1427, một loại hiệp ước đầu tiên trong lịch sử chống xâm lăng.
Nay hai cây bồ đề thời Lê Lợi không còn, vị trí doanh Bồ Đề cũng không biết chỗ nào, nhưng hai làng ái Mộ và Phú Viên còn đó và là thành viên của phường Bồ Đề, quận Long Biên. Tên phường là lấy từ sự tích doanh Bồ Đề thời Lê Lợi. Và ngay cả ngôi chùa ở làng Phú Viên, tên chữ Hán là Thiên Sơn Tự song cũng được mọi người gọi là chùa Bồ Đề.
Đặc biệt trong chùa có một tấm bia dựng năm Hoằng Định thứ 13 (1614) có tên là “Trùng cấu Thiên Sơn tự bi ký” (bia ghi việc sửa lại chùa Thiên Sơn). Như vậy chùa phải có trước đó hàng trăm năm. Bia do Nguyễn Lê, Tiến sĩ khoa 1568 soạn, có một câu cho rằng chùa được xây dựng trên nền đại doanh Bồ Đề. Đó là câu: “Đế kinh ư thử đô hội” tức là đế kinh lại triều hội ở đây.
Dưới Bồ Đề là làng Tư Đình vốn có tên là Vườn Hồng. Ngạn ngữ cổ có câu: Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Vườn Hồng. Hẳn đây là một làng chuyên trồng hoa, chủ yếu là hồng. Làng Vườn Hồng - Tư Đình này vốn là làng cung cấp nhiều nhũ mẫu cho Chúa Trịnh. Tám đời Chúa ở Thăng Long thì có tới 6 đời kén nhũ mẫu của làng này. Bên dưới Tư Đình là Thạnh Cầu. Nơi đây cạnh đê thuộc thôn Ngọc Trì, có ngôi đền Quán Thánh, bên trong cũng có tượng Thánh Trấn Vũ đúc bằng đồng, có bề còn to hơn tượng ở đền Quán Thánh bên hồ Trúc.
Những di tích nằm trải dài đôi bờ sông Hồng đa phần là các di tích cổ. Sự tích cổ, kiến trúc cổ, tín ngưỡng cổ, tâm linh cổ, ấp ủ nhiều lễ hội cổ mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian Việt.
Vietbao (Theo An ninh thủ đô)
Tìm hiểu: Lê Lợi, Tư Đình, Cơ Xá, văn hóa dân gian, kiến trúc cổ, Cây bồ đề, di tích, Sông Hồng, tích cổ, một khúc, sự tích, khúc sông, làng, bãi |