vietbao

Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự

Bấm ngay Subscribe / Đăng Ký xem video hay mới nhất >>

Xin giới thiệu toàn văn Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự; Kế hoạch lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Bộ luật, và đề cương gợi ý một số vấn đề cần lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Dự thảo này sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 5 sắp tới.

KẾ HOẠCH LẤY Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH 10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự.

Phần thứ nhất

Những quy định chung

Chương I

Nhiệm vụ và hiệu lực của bộ luật tố tụng dân sự

Ðiều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ án dân sự, các việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án; thi hành án dân sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cá nhân, tổ chức khác có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, công minh và đúng pháp luật.

Bộ luật tố tụng dân sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.

Ðiều 2. Hiệu lực của Bộ luật tố tụng dân sự

1. Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng dân sự trên toàn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là Việt Nam).

2. Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng dân sự do cơ quan Lãnh sự của Việt Nam tiến hành ở nước ngoài.

3. Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

4. Cá nhân, tổ chức nước ngoài thuộc đối tượng hưởng đặc quyền ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, thì vụ việc dân sự có liên quan đến cá nhân, tổ chức đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Chương II

Những nguyên tắc cơ bản

Ðiều 3. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng dân sự

Mọi hoạt động tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo các quy định của Bộ luật này.

Ðiều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

Cá nhân, tổ chức theo thủ tục do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc khi có tranh chấp.

Ðiều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1. Ðương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

2. Các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình bằng việc rút lại, thừa nhận hoặc thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Ðiều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

1. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự.

2. Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.

Ðiều 7. Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền

Cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp cho đương sự những gì được coi là chứng cứ mà cá nhân, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu để đương sự cung cấp cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Trong trường hợp không cung cấp được chứng cứ thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự biết trong đó nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.

Ðiều 8. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự

Tố tụng dân sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Mọi tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu, địa chỉ và những vấn đề khác.

Ðiều 9. Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự

Ðương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác được Tòa án chấp nhận bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự bảo vệ của họ.

Ðiều 10. Hòa giải trong tố tụng dân sự

Tòa án có nhiệm vụ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.

Ðiều 11. Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự

Việc xét xử các vụ án dân sự có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán.

Ðiều 12. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vụ án dân sự

Khi xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ.

Ðiều 13. Trách nhiệm của người tiến hành tố tụng dân sự

1. Người tiến hành tố tụng dân sự phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

2. Người tiến hành tố tụng dân sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Người tiến hành tố tụng dân sự phải giữ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật; giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ.

4. Người tiến hành tố tụng dân sự gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải bồi thường cho người bị thiệt hại và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án hoặc Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.

Ðiều 14. Tòa án xét xử tập thể

Tòa án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết định theo đa số.

Ðiều 15. Xét xử công khai

Việc xét xử vụ án dân sự của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự.

Trong trường hợp đặc biệt cần để giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.

Ðiều 16. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người phiên dịch, người giám định không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Ðiều 17. Thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.

Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.

Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Ðối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

Ðiều 18. Giám đốc việc xét xử

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.

2. Tòa án cấp trên giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án các cấp để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.

Ðiều 19. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cá nhân, tổ chức tôn trọng. Cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó.


Ðiều 20. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự

Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.

Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này Tòa án phải cử người phiên dịch.

Ðiều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự đúng pháp luật, kịp thời.

Ðiều 22. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án

1. Tòa án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp hoặc thông qua bưu điện bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác liên quan đến người tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp Tòa án không thể chuyển giao được thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác liên quan đến người tham gia tố tụng dân sự khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án biết.

Ðiều 23. Việc tham gia tố tụng dân sự của cá nhân, tổ chức

Cá nhân, tổ chức có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này, góp phần vào việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án kịp thời và đúng pháp luật.

Ðiều 24. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự hoặc của bất cứ cá nhân, tổ chức nào.

Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại và tố cáo, thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người đã khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

Chương III

Thẩm quyền của Tòa án

Mục 1

Những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Ðiều 25. Những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những vụ án dân sự sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam;

2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản;

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự;

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, quyền chuyển giao công nghệ mà một trong các bên không có mục đích lợi nhuận;

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản;

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

7. Tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí;

9. Các tranh chấp dân sự khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 26. Những việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những việc dân sự sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự;

2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó;

3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích;

4. Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết;

5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

6. Các việc dân sự khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 27. Những vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những vụ án về hôn nhân và gia đình sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

2. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

3. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ;

5. Tranh chấp về cấp dưỡng;

6. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.

Ðiều 28. Những việc về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những việc về hôn nhân và gia đình sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;

2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

3. Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

4. Yêu cầu hạn chế quyền của cha, của mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;

5. Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

6. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

7. Các việc khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định.

Ðiều 29. Những vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những vụ án kinh tế sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:

a) Mua bán hàng hóa;

b) Cung ứng dịch vụ;

c) Phân phối;

d) Ðại diện, đại lý;

đ) Ký gửi;

e) Thuê, cho thuê, thuê mua;

g) Xây dựng;

h) Tư vấn, kỹ thuật;

i) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa;

k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;

l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu;

m) Ðầu tư, tài chính, ngân hàng;

n) Bảo hiểm;

o) Thăm dò, khai thác;

2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, quyền chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;

3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty;

4. Các tranh chấp kinh tế khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 30. Những việc kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những việc kinh tế sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Yêu cầu liên quan đến việc giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại;

2. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh tế, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh tế, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

3. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh tế, thương mại của Trọng tài nước ngoài;

4. Các việc kinh tế khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 31. Những vụ án lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những vụ án lao động sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) hòa giải không thành hoặc Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động không giải quyết trong thời hạn quy định, trừ các tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của Bộ luật lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp xuất khẩu lao động;

2. Các tranh chấp lao động tập thể sau đây giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động:

a) Về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác;

b) Về việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể;

c) Về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn;

3. Các tranh chấp lao động khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 32. Những việc về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những việc về lao động sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

1. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

2. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài;

3. Các việc khác về lao động mà pháp luật có quy định.

Mục 2

Thẩm quyền của Tòa án các cấp

Ðiều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những vụ án dân sự sau đây, trừ những vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài:

a) Những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Ðiều 25 và Ðiều 27 của Bộ luật này;

b) Những vụ án kinh tế quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm i khoản 1 Ðiều 29 của Bộ luật này;

c) Những vụ án lao động quy định tại khoản 1 Ðiều 31 của Bộ luật này.

2. Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những việc dân sự sau đây:

a) Những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Ðiều 26 của Bộ luật này;

b) Những việc về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Ðiều 28 của Bộ luật này.

Ðiều 34. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

1. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những vụ án dân sự sau đây:

a) Những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 Ðiều 33 của Bộ luật này;

b) Những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện quy định tại khoản 1 Ðiều 33 của Bộ luật này mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những việc dân sự sau đây:

a) Những việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 Ðiều 33 của Bộ luật này;

b) Những việc dân sự, hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 Ðiều 33 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

Ðiều 35. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết những vụ án dân sự được xác định như sau:

a) Tòa án nơi địa phương bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là tổ chức giải quyết những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

c) Ðối với những vụ án về tranh chấp bất động sản thì Tòa án nơi địa phương có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

2. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết việc dân sự được xác định như sau:

a) Tòa án nơi địa phương người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

b) Tòa án nơi địa phương người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

c) Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc đã chết;

d) Tòa án nơi địa phương người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án nước ngoài;

đ) Tòa án nơi địa phương người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là tổ chức, có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

e) Tòa án nơi địa phương người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài;

g) Tòa án nơi địa phương thực hiện việc đăng ký kết hôn trái pháp luật có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;

h) Tòa án nơi địa phương một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

i) Tòa án nơi địa phương một trong các bên thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;

k) Tòa án nơi địa phương cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, của mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;

l) Tòa án nơi địa phương cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

m) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.

Ðiều 36. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, của người có yêu cầu

1. Trong các trường hợp sau đây, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

b) Nếu vụ án về tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương tổ chức đó có trụ sở hoặc nơi địa phương tổ chức đó có chi nhánh đó giải quyết;

c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà mình cư trú, làm việc giải quyết;

d) Nếu vụ án về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà mình cư trú, làm việc hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

đ) Nếu vụ án về tranh chấp bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà mình cư trú, làm việc giải quyết;

e) Nếu vụ án về tranh chấp phát sinh từ hoạt động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi địa phương người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi địa phương người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;

g) Nếu vụ án về tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà hợp đồng được thực hiện giải quyết;

h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết.

2. Trong các trường hợp sau đây, người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết việc dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Ðiều 26 và Ðiều 28 của Bộ luật này:

a) Ðối với các việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Ðiều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương mà mình cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết;

b) Ðối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Ðiều 28 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;

c) Ðối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, của mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án nơi địa phương người con cư trú giải quyết.

Ðiều 37. Chuyển vụ án cho Tòa án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền

1. Trong trường hợp thấy vụ án đã thụ lý không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án đã thụ lý vụ án xóa sổ thụ lý và ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Quyết định này phải được gửi cho đương sự, cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ðương sự, cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định chuyển vụ án phải giải quyết khiếu nại.

2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.

3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các tỉnh khác nhau hoặc giữa các Tòa án cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.

Ðiều 38. Nhập hoặc tách vụ án

1. Tòa án có thể nhập hai hoặc nhiều vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý riêng biệt thành một vụ án để giải quyết, nếu việc nhập đó và việc giải quyết trong cùng một vụ án vẫn bảo đảm đúng pháp luật.

2. Tòa án có thể tách một vụ án có các yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án, nếu việc tách đó được các đương sự đồng ý và việc giải quyết các vụ án được tách vẫn bảo đảm đúng pháp luật.

Chương IV

Người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng

Ðiều 39. Người tiến hành tố tụng

Người tiến hành tố tụng gồm có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

Ðiều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án

1. Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây trong tố tụng dân sự:

a) Tổ chức công tác giải quyết các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án;

b) Quyết định phân công Phó Chánh án, Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự; phân công Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự;

c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;

d) Ra các quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này;

đ) Giải quyết các khiếu nại đối với các quyết định trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật này;

e) Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.

2. Khi Chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án quy định tại khoản 1 Ðiều này. Phó Chánh án phải chịu trách nhiệm trước Chánh án về nhiệm vụ được giao.

Ðiều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Tiến hành lập hồ sơ vụ án;

2. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

3. Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự;

4. Tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật này;

5. Quyết định đưa vụ việc dân sự ra giải quyết;

6. Quyết định triệu tập những người tham gia phiên tòa;

7. Tham gia xét xử các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự;

8. Tiến hành các hoạt động thuộc thẩm quyền khi xét xử vụ án dân sự hoặc khi giải quyết việc dân sự;

9. Thực hiện những công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

Ðiều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân khi được phân công tham gia Hội đồng xét xử vụ án dân sự có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên Tòa;

2. Ðề nghị Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán ra các quyết định cần thiết thuộc thẩm quyền;

3. Tham gia xét xử các vụ án dân sự;

4. Tiến hành các hoạt động thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử khi xét xử vụ án dân sự;

5. Thực hiện những công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

Ðiều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa án

Thư ký Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa;

2. Phổ biến nội quy phiên tòa;

3. Báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa;

4. Ghi biên bản phiên tòa;

5. Thực hiện những công việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án tòa án.

Ðiều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự

1. Khi tiến hành tố tụng dân sự, Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng dân sự và của những người tham gia tố tụng dân sự.

2. Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong tố tụng dân sự theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và của Bộ luật này.

Ðiều 45. Những trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi

Người tiến hành tố tụng dân sự phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự;

2. Họ đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Ðiều 46. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Ðiều 45 của Bộ luật này;

2. Họ trong cùng một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

3. Ðã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh thì vẫn được tham gia xét xử nhiều lần cùng một vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm;

4. Ðã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

Ðiều 47. Thay đổi Kiểm sát viên

Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Ðiều 45 của Bộ luật này;

2. Ðã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

Ðiều 48. Thay đổi Thư ký Tòa án

Thư ký Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Ðiều 45 của Bộ luật này;

2. Ðã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án.

Ðiều 49. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng

1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi mở phiên tòa phải được làm bằng văn bản trong đó cần nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc của việc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng.

2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Ðiều 50. Quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng

1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay

đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án quyết định. Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án thì do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định.

Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu người bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

2. Tại phiên tòa việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa số.

Trong trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án khác thay thế người bị thay đổi do Chánh án Tòa án quyết định; nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án thì Chánh án Tòa án cấp trên quyết định. Việc cử Kiểm sát viên khác thay thế Kiểm sát viên bị thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu người bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.

Chương V

Thành phần giải quyết vụ việc dân sự

Ðiều 51. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân.

Ðiều 52. Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm có ba Thẩm phán.

Ðiều 53. Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự

1. Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao gồm có ba Thẩm phán.

2. Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.

Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán biểu quyết tán thành.

3. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải biểu quyết theo trình tự tán thành, không tán thành với kháng nghị hoặc ý kiến khác. Nếu không có trường hợp nào được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành thì vụ án phải được xét xử lại trong một phiên tòa khác có sự tham gia đầy đủ của các thành viên Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩm phán.

Ðiều 54. Thành phần giải quyết việc dân sự

1. Những việc dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Ðiều 26; các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Ðiều 28 của Bộ luật này do một Thẩm phán giải quyết và quyết định.

2. Những việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động quy định tại khoản 5 Ðiều 26, khoản 6 Ðiều 28, các khoản 1 và 2 Ðiều 30 và Ðiều 32 của Bộ luật này hoặc việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự do một tập thể gồm ba Thẩm phán giải quyết và quyết định theo đa số.

3. Thành phần giải quyết những việc kinh tế quy định tại khoản 1 Ðiều 30 của Bộ luật này được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.

Chương VI

Người tham gia tố tụng

Mục 1

Ðương sự trong vụ án dân sự

Ðiều 55. Ðương sự trong vụ án dân sự

1. Ðương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện, người bị Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự hoặc cá nhân, tổ chức khác có thẩm quyền do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ và do đó họ tự mình đề nghị hoặc do các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ðiều 56. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự

1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cá nhân và tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

3. Ðương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

4. Ðương sự là người chưa đủ sáu tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.

5. Ðương sự là người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện, nhưng họ cũng được tham gia tố tụng.

6. Ðương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó. Trong trường hợp này Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp của họ tham gia tố tụng. Ðối với những việc khác việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện, nhưng họ cũng được tham gia tố tụng.

7. Ðương sự là tổ chức do người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng.

Ðiều 57. Quyền, nghĩa vụ của đương sự

1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.

2. Khi tham gia tố tụng đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

b) Ðề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ về những tình tiết cụ thể mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập nhân chứng, trưng cầu giám định, định giá;

c) Ðược biết và ghi chép, sao chụp các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập;

d) Ðề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

đ) Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành;

e) Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;

g) Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình;

h) Tham gia phiên tòa;

i) Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

k) Ðề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng;

l) Tranh luận tại phiên tòa;

m) Ðược cấp bản trích lục, bản sao bản án, quyết định của Tòa án;

n) Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án;

o) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án;

p) Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa;

q) Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;

r) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

s) Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 58. Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn

1. Nguyên đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Ðiều 57 của Bộ luật này;

b) Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện;

c) Ðề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;

d) Ðề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

đ) Thông báo cho bị đơn biết là đã khởi kiện vụ án dân sự đối với họ tại Tòa án.

2. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện.

Ðiều 59. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn

1. Bị đơn có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Ðiều 57 của Bộ luật này;

b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn; bác bỏ toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;

c) Ðưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu;

d) Ðược thông báo hợp lệ về việc khởi kiện của nguyên đơn.

2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Ðiều 60. Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Ðiều 57 của Bộ luật này;

b) Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn.

2. Khi tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thì người có yêu cầu độc lập có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Ðiều 58 của Bộ luật này.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc chỉ có quyền lợi thì có các quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Ðiều 58 của Bộ luật này.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên bị đơn hoặc chỉ có nghĩa vụ thì có các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại Ðiều 59 của Bộ luật này.

Ðiều 61. Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng

1. Nếu đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế, thì người thừa kế tham gia tố tụng.

2. Nếu đương sự là tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đó được xác định như sau:

a) Nếu tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng, trừ trường hợp họ vẫn có đại diện hợp pháp sau khi phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể;

b) Nếu tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đại diện hợp pháp của tổ chức cấp trên của tổ chức đó hoặc đại diện hợp pháp của tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng;

c) Nếu tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách thì cá nhân, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó tham gia tố tụng.

3. Nếu đương sự là tổ chức không phải là pháp nhân mà người đại diện hoặc người quản lý đang tham gia tố tụng chết, thì tổ chức đó phải cử người khác làm đại diện để tham gia tố tụng. Nếu tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể thì cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng.

Mục 2

Những người tham gia tố tụng khác

Ðiều 62. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Những người sau đây có thể được chấp nhận làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự:

a) Luật sư không bị cấm thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;

b) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an.

3. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền, lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau.

Ðiều 63. Quyền, nghĩa vụ của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

1. Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình tố tụng dân sự. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có thể được tham gia phiên Tòa giám đốc thẩm nếu Tòa án xét thấy cần thiết;

2. Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự;

3. Tham gia việc hòa giải, tham gia phiên tòa hoặc có văn bản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

4. Ðược thay mặt đương sự đề xuất việc xin thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

5. Giúp đương sự về mặt pháp luật liên quan tới việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

Ðiều 64. Người làm chứng

Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án dân sự có thể được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.

Ðiều 65. Quyền, nghĩa vụ của người làm chứng

1. Người làm chứng có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Cung cấp toàn bộ những tài liệu, giấy tờ mà mình có được có liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự; khai trực tiếp với Thẩm phán hoặc bằng văn bản về tất cả những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án;

b) Tham gia phiên tòa và khai báo trước Hội đồng xét xử;

c) Ðược nghỉ việc trong thời gian Tòa án triệu tập hoặc lấy lời khai, nếu làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp;

d) Ðược hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác do pháp luật quy định;

đ) Ðược từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật đời tư hoặc việc khai báo đó có ảnh hưởng xấu, bất lợi cho đương sự là người có quan hệ thân thích với mình;

e) Khai báo trung thực những tình tiết mà mình biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án;

g) Bồi thường thiệt hại và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật do những lời khai báo sai sự thật mà gây thiệt hại cho đương sự hoặc cho người khác;

h) Phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu lời khai của người làm chứng phải thực hiện công khai tại phiên tòa;

i) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, trừ người làm chứng là người chưa thành niên.

2. Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng thì có thể bị dẫn giải đến phiên tòa.

Người làm chứng khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc từ chối khai báo hoặc khi được Tòa án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Ðiều 66. Người giám định

Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về lĩnh vực có đối tượng cần giám định được các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án trưng cầu để giám định đối tượng đó theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự.

Ðiều 67. Quyền, nghĩa vụ của người giám định

1. Người giám định có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Ðược đọc các tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giám định;

b) Ðặt câu hỏi cho người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;

c) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan;

d) Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về việc không thể giám định được do đối tượng cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu chuyển đến không đủ hoặc không sử dụng được cho việc giám định;

đ) Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định được;

e) Không được phép tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc riêng với những người tham gia tố tụng khác nếu có thể ảnh hưởng đến kết quả giám định. Không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định, thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định;

g) Ðược hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác do pháp luật quy định;

h) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

2. Người giám định từ chối kết luận giám định mà không có lý do chính đáng hoặc kết luận giám định sai sự thật hoặc khi được Tòa án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

3. Người giám định phải từ chối hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Ðiều 45 của Bộ luật này;

b) Ðã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

c) Ðã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên.

Ðiều 68. Người phiên dịch

Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt và ngược lại trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Người phiên dịch được các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn và được Tòa án chấp nhận hoặc được Tòa án cử.

Ðiều 69. Quyền, nghĩa vụ của người phiên dịch

1. Người phiên dịch có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;

b) Phải phiên dịch trung thực, khách quan, đúng nghĩa;

c) Ðề nghị người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng giải thích thêm lời nói cần phiên dịch;

d) Không được tiếp xúc với những người tham gia tố tụng khác, nếu có thể ảnh hưởng đến tính trung thực, khách quan, đúng nghĩa khi phiên dịch;

đ) Ðược hưởng các khoản phí đi lại và các chế độ khác do pháp luật quy định;

e) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

2. Người phiên dịch cố ý dịch sai sự thật hoặc khi được Tòa án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

3. Người phiên dịch phải từ chối hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Ðiều 45 của Bộ luật này;

b) Ðã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định trong cùng vụ án đó;

c) Ðã tiến hành tố tụng với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên.

4. Những quy định của Ðiều này cũng được áp dụng đối với người biết dấu hiệu của người tham gia tố tụng câm hoặc điếc.

Trong trường hợp chỉ có người đại diện hoặc người thân thích của người tham gia tố tụng câm hoặc điếc biết được dấu hiệu của họ, thì người đại diện hoặc người thân thích có thể được Tòa án chấp nhận làm phiên dịch cho người tham gia tố tụng câm hoặc điếc đó.

Ðiều 70. Thủ tục từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch

1. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch trước khi mở phiên tòa phải được làm bằng văn bản trong đó cần nêu rõ lý do của việc từ chối hoặc lý do của việc đề nghị thay đổi.

2. Việc từ chối giám định, phiên dịch hoặc đề nghị thay đổi người giám định, người phiên dịch tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Ðiều 71. Quyết định việc thay đổi người giám định, người phiên dịch

1. Trước khi mở phiên tòa, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án quyết định.

2. Tại phiên tòa, việc thay đổi người giám định, người phiên dịch do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên nếu Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, người bị yêu cầu thay đổi và những người tham gia tố tụng khác.

Trong trường hợp phải thay đổi người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc trưng cầu người giám định khác hoặc cử người phiên dịch khác được thực hiện theo thủ tục chung.

Ðiều 72. Người đại diện

1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.

2. Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự.

Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.

3. Ðại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự phải tuân theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðối với việc ly hôn đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng.

Ðiều 73. Quyền, nghĩa vụ của người đại diện

1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện mọi quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình là đại diện.

2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

Ðiều 74. Những trường hợp không được làm người đại diện

1. Người đại diện theo pháp luật không thể là đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ án với người được đại diện mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện;

b) Nếu họ đang là người đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác, mà quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền, lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ án.

2. Quy định tại khoản 1 Ðiều này cũng được áp dụng đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

3. Cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

Ðiều 75. Chỉ định người đại diện trong tố tụng dân sự

Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật bị hạn chế quyền đại diện theo quy định tại khoản 1 Ðiều 74 của Bộ luật này hoặc trong trường hợp bị đơn là tổ chức không có người đại diện, không rõ nơi sinh sống của bị đơn hoặc trong những trường hợp pháp luật có quy định, thì Tòa án phải chỉ định người đại diện cho người đó để tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ tại Tòa án.

Ðiều 76. Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự

1. Người đại diện đương nhiên trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện trong trường hợp người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục.

2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðiều 77. Hậu quả của việc chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự

1. Trong trường hợp chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 1 Ðiều 76 của Bộ luật này thì người đã thành niên hoặc người đã khôi phục năng lực hành vi dân sự tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục chung.

2. Trong trường hợp chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự theo quy định tại khoản 2 Ðiều 76 của Bộ luật này thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục chung.

Chương VII

Chứng minh và Chứng cứ

Ðiều 78. Nghĩa vụ chứng minh

1. Ðương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình phải chứng minh yêu cầu đó là có căn cứ pháp luật và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

2. Ðương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

3. Cá nhân, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích chung hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì phải chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và đưa ra chứng cứ để chứng minh.

4. Viện kiểm sát khởi tố vụ án hoặc có yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự thì Viện kiểm sát phải chứng minh cho việc khởi tố, yêu cầu là có căn cứ và đưa ra chứng cứ để chứng minh.

5. Ðương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Ðiều 79. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh

1. Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

a) Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;

b) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

c) Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp.

2. Một bên đương sự thừa nhận những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra, thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

3. Cũng được coi là có sự thừa nhận tình tiết, sự kiện mà một bên đương sự đưa ra, nếu trong quá trình tố tụng đương sự kia không phản đối tình tiết, sự kiện đó.

4. Ðương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự, nếu đương sự không phản đối sự thừa nhận đó.

Ðiều 80. Chứng cứ

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Ðiều 81. Các loại chứng cứ

Chứng cứ bao gồm các loại sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

2. Các vật chứng;

3. Lời khai của đương sự;

4. Lời khai của người làm chứng;

5. Kết luận giám định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

7. Tập quán;

8. Kết quả định giá tài sản;

9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 82. Xác định chứng cứ

1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo biên bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc biên bản sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

4. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, bằng băng ghi âm, băng ghi hình theo quy định tại khoản 2 Ðiều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.

5. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của người giám định, có xác nhận và đóng dấu của cơ quan nơi người giám định đó công tác.

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định.

7. Tập quán được coi là chứng cứ nếu tập quán đó được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

8. Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo đúng quy định tại khoản 1 Ðiều này.

Ðiều 83. Giao nộp chứng cứ

1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án. Nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Việc giao nộp chứng cứ do đương sự xuất trình phải được Tòa án lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biên bản phải ghi rõ hình thức, nội dung hoặc bản chất của chứng cứ; tên gọi của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; người nhận phải ký và đóng dấu của Tòa án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ.

3. Ðương sự giao nộp cho Tòa án chứng cứ bằng tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Ðiều 84. Thu thập chứng cứ

1. Nếu xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung thêm chứng cứ.

2. Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:

a) Lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng;

b) Trưng cầu giám định;

c) Quyết định định giá tài sản;

d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;

đ) Ủy thác thu thập chứng cứ;

e) Yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.

3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 2 Ðiều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án.

Ðiều 85. Lấy lời khai của đương sự

1. Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, chưa rõ ràng. Ðương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự. Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự chưa khai đầy đủ, chưa rõ ràng. Thẩm phán tự mình hoặc có Thư ký Tòa án giúp việc ghi lại lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sự tại Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án.

2. Biên bản ghi lời khai của đương sự phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của Tòa án. Nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án, thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân địa phương nơi lập biên bản.

3. Việc lấy lời khai của đương sự thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 4 và 5 Ðiều 56 của Bộ luật này phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật của đương sự đó.

Ðiều 86. Lấy lời khai của người làm chứng

1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết Thẩm phán có thể tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án.

2. Thủ tục lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành như việc lấy lời khai của đương sự quy định tại khoản 2 Ðiều 85 của Bộ luật này.

3. Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ mười tám tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý trông nom người đó.

Ðiều 87. Ðối chất

1. Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa những người làm chứng với nhau.

2. Việc đối chất phải được ghi thành biên bản, có chữ ký của những người tham gia đối chất.

Ðiều 88. Xem xét, thẩm định tại chỗ

1. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện chính quyền cơ sở hoặc tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét thẩm định và phải báo trước việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương sự biết và chứng kiến việc thẩm định đó.

2. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ kết quả xem xét, thẩm định hoặc mô tả rõ hiện trường. Biên bản phải có chữ ký của người tiến hành xem xét, thẩm định, của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện chính quyền cơ sở hoặc tổ chức sở tại và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định. Sau khi lập xong biên bản, người tiến hành xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện chính quyền cơ sở hoặc tổ chức sở tại ký tên và đóng dấu xác nhận.

Ðiều 89. Trưng cầu giám định

1. Theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán có thể ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của cơ quan tiến hành giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của cơ quan tiến hành giám định.

2. Cơ quan chức năng chuyên môn nhận được quyết định trưng cầu giám định phải tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, chưa rõ hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán có thể ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại. Việc giám định lại có thể do cơ quan đã tiến hành giám định trước đó thực hiện hoặc do cơ quan chức năng chuyên môn khác thực hiện.

Ðiều 90. Trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo

1. Nếu chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người nào đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại. Trong trường hợp họ không rút lại, người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định theo quy định tại Ðiều 89 của Bộ luật này.

2. Nếu việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu của tội phạm thì Thẩm phán chuyển cho Viện kiểm sát để xem xét về trách nhiệm hình sự.

3. Người đưa ra chứng cứ giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác.

Ðiều 91. Quyết định định giá tài sản

1. Tòa án chỉ ra quyết định định giá tài sản đang có tranh chấp nếu giữa các bên đương sự không thống nhất được giá tài sản đó hoặc thỏa thuận theo mức thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí.

2. Hội đồng định giá do Tòa án ra quyết định thành lập phải có đại diện của cơ quan tài chính và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan khác. Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết đại diện chính quyền cơ sở nơi có tài sản được định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá và có quyền có mặt khi định giá và được tham gia ý kiến vào việc định giá. Quyền quyết định về giá thuộc Hội đồng định giá.

3. Cơ quan tài chính và cơ quan chuyên môn có liên quan khác có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá.

4. Việc định giá phải được ghi thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, Thẩm phán giám sát việc định giá ký tên vào biên bản.

Ðiều 92. Ủy thác thu thập chứng cứ

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.

2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác cho Tòa án khác để thu thập chứng cứ.

3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác. Trong trường hợp không thực hiện được công việc cụ thể được ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác trong đó nêu rõ lý do của việc không thực hiện được việc ủy thác.

4. Nếu việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự của nước ngoài mà nước đó cùng Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.

Ðiều 93. Yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp chứng cứ

1. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.

Ðương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó.

2. Tòa án có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp chứng cứ.

Cá nhân, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Nếu không cung cấp được bản chính thì cung cấp bản sao có xác nhận của cá nhân, tổ chức đó.

Ðiều 94. Bảo quản chứng cứ

1. Nếu chứng cứ đã giao nộp tại Tòa án thì việc bảo quản chứng cứ đó do Tòa án chịu trách nhiệm.

2. Nếu chứng cứ mà không thể giao nộp được tại Tòa án thì người nào đang lưu giữ chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản.

3. Trong trường hợp cần giao cho người thứ ba bảo quản chứng cứ thì Thẩm phán ra quyết định và lập biên bản giao cho người đó bảo quản. Người nhận bảo quản phải ký tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu trách nhiệm về việc bảo quản chứng cứ đó.

Ðiều 95. Ðánh giá chứng cứ

1. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, chính xác và đầy đủ. Không có chứng cứ nào có ý nghĩa quyết định trước đối với Tòa án.

2. Tòa án phải đánh giá từng chứng cứ, đánh giá sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của các chứng cứ.

Ðiều 96. Công bố và sử dụng chứng cứ

1. Mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều này.

2. Chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước thì Tòa án không công bố công khai. Chứng cứ có liên quan đến bí mật kinh doanh hay bí mật đời tư của cá nhân mà đương sự có yêu cầu thì Tòa án không công bố công khai.

3. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật theo quy định của pháp luật những chứng cứ thuộc trường hợp không công bố công khai quy định tại khoản 2 Ðiều này.

Ðiều 97. Bảo toàn chứng cứ

1. Trong trường hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Tòa án có thể ra quyết định áp dụng một hoặc một số trong các biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác.

2. Trong trường hợp nhân chứng bị đe dọa, khống chế hoặc bị mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật, Tòa án có quyền ra quyết định buộc người có hành vi đe dọa, khống chế hay mua chuộc phải chấm dứt hành vi đe dọa, khống chế hay mua chuộc người làm chứng. Nếu hành vi đe dọa, khống chế hay mua chuộc có dấu hiệu tội phạm, thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự.

Chương VIII

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Ðiều 98. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Trong quá trình giải quyết vụ án đương sự hoặc người đại diện hợp pháp cho đương sự, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại Ðiều 161 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Ðiều 101 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.

2. Trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn ảnh hưởng xấu đến đời sống, hoạt động kinh doanh hoặc bảo đảm việc thi hành án, thì cá nhân, tổ chức có liên quan có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tương ứng quy định tại Ðiều 101 của Bộ luật này trước khi khởi kiện vụ án tại Tòa án.

3. Chỉ trong những trường hợp quy định tại Ðiều 118 của Bộ luật này mà đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án mới tự mình hoặc theo kiến nghị của Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ðiều 99. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

2. Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

b) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát;

c) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, tổ chức hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát.

3. Viện kiểm sát kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về kiến nghị của mình.

Ðiều 100. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi người có yêu cầu khởi kiện vụ án hoặc trước khi mở phiên tòa do một Thẩm phán xem xét, quyết định.

2. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa do Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Ðiều 101. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm:

1. Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng;

3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm;

4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;

5. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định sa thải người lao động;

6. Kê biên tài sản đang tranh chấp;

7. Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp;

8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp;

9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc các sản phẩm hàng hóa khác;

10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;

11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ;

12. Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định;

13. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 102. Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến người chưa thành niên mà họ chưa có người giám hộ.

Ðiều 103. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng mà xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và nếu không thực hiện việc cấp dưỡng ngay trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người được cấp dưỡng.

Ðiều 104. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và cần thiết buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ để bồi thường thiệt hại.

Ðiều 105. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu trả tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và cần thiết buộc người sử dụng lao động phải thực hiện việc tạm ứng.

Ðiều 106. Tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động

Tạm đình chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động được áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến sa thải người lao động và xét thấy quyết định sa thải người lao động là trái pháp luật hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người lao động.

Ðiều 107. Kê biên tài sản đang tranh chấp

1. Kê biên tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tẩu tán tài sản.

2. Việc kê biên tài sản đang tranh chấp có thể là thu giữ, bảo quản tại Tòa án hoặc lập biên bản giao cho một bên đương sự hoặc người thứ ba quản lý tài sản đó cho đến khi có quyết định của Tòa án.

Ðiều 108. Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp

Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản đó cho người khác.

Ðiều 109. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Ðiều 110. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác

Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác được áp dụng, nếu trong quá trình giải quyết vụ án có tài sản đang tranh chấp hoặc liên quan đến tranh chấp mà có hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác ở thời kỳ thu hoạch hoặc không thể bảo quản được lâu dài.

Ðiều 111. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.

Ðiều 112. Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ

Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.

Ðiều 113. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ

Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.

Ðiều 114. Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định

Cấm hoặc buộc thực hiện một số hành vi nhất định được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cá nhân, tổ chức khác thực hiện hoặc không thực hiện một số hành vi nhất định đã làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.

Ðiều 115. Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác

Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.

Ðiều 116. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Ðơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm viết đơn;

b) Tên, địa chỉ của người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

c) Tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

d) Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của mình;

đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

e) Loại biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.

Tùy theo yêu cầu áp dụng loại biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án các chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.

2. Sau khi nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và các chứng cứ kèm theo trước khi người yêu cầu khởi kiện vụ án thì Chánh án Tòa án chỉ định ngay một Thẩm phán thụ lý giải quyết đơn yêu cầu. Thẩm phán phải xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn tối đa không quá ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu. Trong trường hợp này Thẩm phán không phải nghe lời trình bày của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu chấp nhận yêu cầu, Thẩm phán ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

3. Trong trường hợp áp dụng một hoặc một số biện pháp quy định tại các khoản 10 và 11 Ðiều 101 của Bộ luật này, thì chỉ được phong tỏa tài sản, tài khoản có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

Ðiều 117. Kiến nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng văn bản trong đó phải nêu rõ lý do kiến nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; loại biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng; tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ; tên, địa chỉ của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; các chứng cứ chứng minh cho việc kiến nghị của mình là có căn cứ.

Ðiều 118. Tòa án tự mình hoặc theo kiến nghị của Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án tự mình hoặc theo kiến nghị của Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp sau đây:

1. Ðể bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

2. Những biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Ðiều 101 của Bộ luật này trong trường hợp đương sự không có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ðiều 119. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác hoặc cần áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Ðiều 116 của Bộ luật này.

Ðiều 120. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Tòa án ra ngay quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trước khi người có yêu cầu khởi kiện vụ án quy định tại khoản 2 Ðiều 98 của Bộ luật này mà hết thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người có yêu cầu đã không khởi kiện vụ án tại Tòa án để yêu cầu Tòa án giải quyết;

b) Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ;

c) Người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ đối với bên có yêu cầu;

d) Người yêu cầu không thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại Ðiều 121 của Bộ luật này;

đ) Nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ được chấm dứt theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Trong trường hợp hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Tòa án phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhận lại tài sản, số tiền bảo đảm quy định tại Ðiều 121 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Ðiều 99 của Bộ luật này.

Ðiều 121. Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Ðiều 101 của Bộ luật này phải gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền do Tòa án ấn định nhưng không quá nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để bảo vệ lợi ích cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời từ phía người có quyền yêu cầu.

2. Khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ trị giá được bằng tiền phải gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng trong thời hạn do Tòa án ấn định.

Ðiều 122. Hiệu lực của quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay.

2. Tòa án phải cấp hoặc gửi ngay quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi ra quyết định cho người có yêu cầu, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cá nhân, tổ chức có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp.

Ðiều 123. Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Ðương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Ðiều 124. Giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị quy định tại Ðiều 123 của Bộ luật này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị.

2. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy định tại khoản 2 Ðiều 122 của Bộ luật này.

3. Tại phiên tòa, việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.

Ðiều 125. Thi hành quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

2. Ðối với quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì đương sự có nghĩa vụ nộp bản sao quyết định cho cơ quan quản lý đăng ký quyền sở hữu để ghi chú vào sổ đăng ký.

Chương IX

Án phí, lệ phí và các chi phí về tố tụng khác

Mục 1

Án phí, lệ phí

Ðiều 126. Tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí

1. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

2. Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.

3. Lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định và các giấy tờ khác của Tòa án, lệ phí nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 127. Xử lý tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí thu được

1. Toàn bộ án phí, lệ phí Tòa án thu được phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước thông qua hệ thống Kho bạc nhà nước.

2. Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án theo quyết định của Tòa án.

3. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp, thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ.

Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải chịu án phí, lệ phí, thì ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành số tiền tạm ứng đã thu được phải được làm thủ tục chuyển nộp vào ngân sách nhà nước.

4. Trong trường hợp việc giải quyết vụ việc dân sự bị tạm đình chỉ, thì tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp được xử lý khi vụ việc được tiếp tục giải quyết.

Ðiều 128. Thực hiện chế độ thu, chi trả án phí, lệ phí

Việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí; việc chi trả tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu, chi trả.

Ðiều 129. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí

1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm; người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.

2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.

Ðiều 130. Nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm

1. Ðương sự phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn nộp án phí sơ thẩm hoặc không phải nộp án phí sơ thẩm.

2. Trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung và có yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung đó cho họ, thì mỗi bên đương sự phải nộp án phí sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng.

3. Trước khi mở phiên Tòa, Tòa án tiến hành hòa giải mà các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì họ chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Ðiều này.

4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp cả hai thuận tình ly hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa án phí sơ thẩm.

5. Nếu trong vụ án có đương sự được miễn nộp án phí sơ thẩm, thì đương sự khác vẫn phải nộp án phí sơ thẩm mà mình phải chịu theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Ðiều này.

6. Trong trường hợp vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết thì nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm được quyết định khi vụ án được tiếp tục giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Ðiều này.

Ðiều 131. Nghĩa vụ nộp án phí phúc thẩm

1. Ðương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường hợp được miễn nộp án phí hoặc không phải nộp án phí.

2. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải sửa lại nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại Ðiều 130 của Bộ luật này.

3. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm. Nghĩa vụ nộp án phí được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Ðiều 132. Nghĩa vụ nộp lệ phí

Nghĩa vụ nộp lệ phí được xác định tuỳ theo việc giải quyết từng loại vụ việc dân sự cụ thể và do pháp luật quy định.

Ðiều 133. Quy định cụ thể về án phí, lệ phí

Án phí, mức án phí đối với mỗi loại vụ án cụ thể, các loại lệ phí, mức lệ phí cụ thể, các trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, các trường hợp không phải nộp án phí và các vấn đề cụ thể khác liên quan đến án phí, lệ phí chưa được quy định trong Bộ luật này do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

Mục 2

Các chi phí tố tụng khác

Ðiều 134. Tiền tạm ứng chi phí giám định, chi phí giám định

1. Tiền tạm ứng chi phí giám định là số tiền tổ chức, cá nhân được Tòa án trưng cầu giám định tạm tính để tiến hành việc giám định theo quyết định của Tòa án.

2. Chi phí giám định là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc giám định và do tổ chức, cá nhân thực hiện việc giám định tính căn cứ vào quy định của pháp luật.

Ðiều 135. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định

1. Người yêu cầu trưng cầu giám định phải nộp tiền tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Trong trường hợp các bên đương sự thỏa thuận lựa chọn cơ quan giám định hoặc cùng yêu cầu trưng cầu giám định thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí giám định, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Ðiều 136. Xử lý tiền tạm ứng chi phí giám định đã nộp

1. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định không phải nộp chi phí giám định, thì người phải nộp chi phí giám định theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định.

2. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí giám định phải nộp chi phí giám định, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí giám định thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu đó. Nếu số tiền tạm ứng đã nộp cao hơn chi phí giám định thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa đó.

Ðiều 137. Nghĩa vụ nộp tiền chi phí giám định

Trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền chi phí giám định được xác định như sau:

1. Người yêu cầu trưng cầu giám định phải nộp tiền chi phí giám định, nếu kết quả giám định không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;

2. Người thua kiện phải nộp tiền chi phí giám định, nếu kết quả giám định có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.

Ðiều 138. Tiền tạm ứng chi phí định giá, chi phí định giá

1. Tiền tạm ứng chi phí định giá là số tiền mà Hội đồng định giá tạm tính để tiến hành việc định giá theo quyết định của Tòa án.

2. Chi phí định giá là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho công việc định giá và do Hội đồng định giá tính căn cứ vào quy định của pháp luật.

Ðiều 139. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí định giá

1. Người yêu cầu tiến hành việc định giá phải nộp tiền tạm ứng chi phí định giá, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Trong trường hợp các bên đương sự không thống nhất được về giá mà yêu cầu tiến hành định giá thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền tạm ứng chi phí định giá.

Ðiều 140. Xử lý tiền tạm ứng chi phí định giá đã nộp

1. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá không phải nộp chi phí định giá, thì người phải nộp chi phí định giá theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá.

2. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí định giá phải nộp chi phí định giá, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí định giá thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu đó. Nếu số tiền tạm ứng đã nộp cao hơn chi phí định giá thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa đó.

Ðiều 141. Nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá

Trong trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ nộp tiền chi phí định giá được xác định như sau:

1. Người yêu cầu tiến hành định giá phải nộp tiền chi phí định giá, nếu kết quả định giá không có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án đó;

2. Người thua kiện phải nộp chi phí định giá nếu kết quả định giá có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án;

3. Trong trường hợp cả hai bên đương sự không thống nhất về giá mà có yêu cầu tiến hành định giá thì mỗi bên đương sự phải nộp một nửa số tiền chi phí định giá;

4. Trong trường hợp định giá để chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Ðiều 142. Chi phí cho người làm chứng

1. Chi phí hợp lý và thực tế cho người làm chứng do đương sự chịu.

2. Người đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng phải chịu tiền chi phí cho người làm chứng, nếu lời làm chứng phù hợp sự thật nhưng không đúng với yêu cầu của người đề nghị. Trong trường hợp lời làm chứng phù hợp với sự thật và đúng với yêu cầu của người đề nghị triệu tập người làm chứng, thì chi phí này do đương sự có yêu cầu độc lập với yêu cầu của người đề nghị phải chịu.

Ðiều 143. Chi phí cho người phiên dịch, luật sư

1. Chi phí cho người phiên dịch là khoản tiền phải trả cho người phiên dịch trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo thỏa thuận của đương sự với người phiên dịch hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Chi phí cho luật sư là khoản tiền phải trả cho luật sư theo sự thỏa thuận của đương sự với luật sư trong phạm vi quy định của Văn phòng luật sư và theo quy định của pháp luật.

3. Chi phí cho người phiên dịch, cho luật sư do người có yêu cầu chịu, trừ trường hợp các bên đương sự có thỏa thuận khác.

4. Trong trường hợp Tòa án cử người phiên dịch thì chi phí cho người phiên dịch do Tòa án trả.

Ðiều 144. Quy định cụ thể về các chi phí tố tụng khác

Chi phí về giám định, định giá và chi phí cho người làm chứng, luật sư, người phiên dịch do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể.

Chương X

Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng

Ðiều 145. Nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng

Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, tổ chức có liên quan theo quy định của Bộ luật này.

Ðiều 146. Các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo

Các văn bản tố tụng sau đây phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo:

1. Bản án, quyết định của Tòa án;

2. Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác;

3. Giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự;

4. Ðơn khởi kiện, đơn kháng cáo, kháng nghị;

5. Các văn bản tố tụng khác mà Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác có quy định.

Ðiều 147. Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng

1. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo do những người sau đây thực hiện:

a) Người tiến hành tố tụng dân sự hoặc người của cơ quan tiến hành tố tụng dân sự được giao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng;

b) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu;

c) Ðương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trong những trường hợp do Bộ luật này quy định;

d) Nhân viên bưu điện;

đ) Những người khác mà Bộ luật này hoặc các văn bản pháp luật khác có quy định.

2. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo mà không làm đúng trách nhiệm của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Ðiều 148. Các hình thức cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng

Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo các văn bản tố tụng có thể được thực hiện bằng các hình thức sau đây:

1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp hoặc qua đường bưu điện, qua người thứ ba được ủy quyền;

2. Niêm yết công khai;

3. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Ðiều 149. Tính hợp lệ của việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng

1. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật này thì được coi là hợp lệ.

2. Việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng không được thực hiện hoặc thực hiện không theo đúng quy định của Bộ luật này là không hợp lệ. Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật này.

Người có nghĩa vụ thi hành các văn bản tố tụng đã được cấp, tống đạt hoặc thông báo hợp lệ phải nghiêm chỉnh thi hành. Nếu không thi hành hoặc thi hành không đúng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Ðiều 150. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp

Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được cấp, cần tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng có liên quan. Người được cấp, được triệu tập hoặc được thông báo phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng. Ngày ký nhận là ngày họ được cấp, họ nhận được văn bản tố tụng về việc triệu tập hoặc thông báo để tính thời hạn tố tụng.

Ðiều 151. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho cá nhân

1. Người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho họ. Nếu họ vắng mặt thì có thể chuyển giao cho người thân thích của họ có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Ngày ký nhận của người thân thích cùng cư trú được coi là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo.

2. Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo không có người thân thích cùng cư trú hoặc có người thân thích cùng cư trú nhưng họ không chịu nhận hộ văn bản tố tụng thì có thể chuyển giao văn bản đó cho tổ trưởng tổ dân phố, công an xã, phường, thị trấn, nơi người được cấp, tống đạt hoặc thông báo cư trú và yêu cầu những người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo.

3. Trong trường hợp việc cấp, tống đạt hoặc thông báo qua người khác thì người thực hiện phải lập biên bản ghi rõ việc người được cấp, tống đạt hoặc thông báo vắng mặt, văn bản tố tụng đã được giao cho ai; lý do; ngày, giờ giao; quan hệ giữa họ; cam kết chuyển giao tận tay văn bản tố tụng cho người được cấp, tống đạt hoặc thông báo. Biên bản có chữ ký của người được giao việc chuyển giao và người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo, người chứng kiến (nếu có).

4. Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải cấp, tống đạt hoặc thông báo theo địa chỉ mới của họ.

5. Trong trường hợp người được thông báo vắng mặt, không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của người cung cấp thông tin.

6. Trong trường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của người láng giềng, tổ trưởng tổ dân phố, công an hoặc chính quyền địa phương về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng. Trong trường hợp này việc cấp, tống đạt hoặc thông báo được coi là hợp lệ.

Ðiều 152. Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho tổ chức

Nếu người được cấp, tống đạt hoặc thông báo là tổ chức thì văn bản tố tụng phải được chuyển giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của tổ chức đó và phải được ký nhận. Trong trường hợp tổ chức được cấp, tống đạt hoặc thông báo có người đại diện tham gia tố tụng hoặc cử người đại diện nhận văn bản tố tụng, thì những người này ký nhận văn bản tố tụng đó.

Ngày ký nhận là ngày được cấp, tống đạt hoặc thông báo.

Ðiều 153. Thủ tục niêm yết công khai

1. Việc niêm yết công khai chỉ được thực hiện khi không rõ tung tích của người được cấp, được triệu tập, được thông báo hoặc không thể thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp.

2. Việc niêm yết công khai do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt, thông báo thực hiện theo thủ tục sau đây:

a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt thông báo;

b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo;

c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó cần ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

3. Thời gian niêm yết công khai là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết.

Ðiều 154. Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

1. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, được triệu tập hoặc được thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, được tống đạt hoặc thông báo. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cũng có thể được thực hiện nếu có yêu cầu của các đương sự khác.

Lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng do đương sự có yêu cầu thông báo phải chịu.

2. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng phải được đăng trên báo trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Ðài phát thanh hoặc Ðài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

Ðiều 155. Thông báo kết quả việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng

Trong trường hợp người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng không phải là Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng đó hoặc cán bộ của các cơ quan đó, thì người thực hiện phải thông báo kết quả việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho Tòa án hoặc cơ quan ban hành văn bản tố tụng đó.

Chương XI

Thời hạn tố tụng

Ðiều 156. Thời hạn tố tụng

1. Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cá nhân, tổ chức khác có liên quan thực hiện hành vi tố tụng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình do Bộ luật này quy định.

2. Thời hạn tố tụng có thể được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra.

Ðiều 157. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hạn

Các quy định của Bộ luật dân sự về cách tính thời hạn; quy định về thời hạn; thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn được áp dụng đối với cách tính thời hạn tố tụng; quy định về thời hạn tố tụng; thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn tố tụng.

Ðiều 158. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu

1. Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Thời hiệu yêu cầu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày phát sinh tranh chấp;

b) Thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Ðiều 159. Áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu

Các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.
Phần thứ hai

Thủ tục Giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương XII

Khởi kiện, khởi tố và thụ lý vụ án

Ðiều 160. Quyền khởi kiện vụ án

Cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Ðiều 161. Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

1. Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện hoặc đề nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án về hôn nhân và gia đình trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

2. Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động.

Ðiều 162. Quyền khởi tố vụ án của Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố vụ án trong những trường hợp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và đối với những vi phạm pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động là người chưa thành niên, người tàn tật và các vi phạm pháp luật lao động nghiêm trọng khác.

Ðiều 163. Phạm vi khởi kiện, khởi tố

1. Cá nhân, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự.

2. Nhiều cá nhân, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự.

3. Viện kiểm sát khởi tố, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền do Bộ luật này quy định có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự.

Ðiều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Ðơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích được bảo vệ;

đ)Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết;

h) Tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

i) Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

k) Các thông tin khác mà người khởi kiện xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án;

l) Phần cuối đơn, người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu tổ chức khởi kiện, thì đại diện hợp pháp của tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu của tổ chức đó.

Ðiều 165. Hình thức, nội dung quyết định khởi tố của Viện kiểm sát

1. Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự phải có quyết định khởi tố.

2. Quyết định khởi tố phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ban hành quyết định khởi tố vụ án dân sự;

b) Tên Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự;

c) Lý do khởi tố vụ án dân sự;

d) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ;

đ) Tên, địa chỉ của người bị khởi tố vụ án dân sự;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết;

h) Tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;

i) Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi tố là có căn cứ và hợp pháp.

Ðiều 166. Tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, quyết định khởi tố

Người khởi kiện hoặc Viện kiểm sát khởi tố phải gửi kèm theo đơn khởi kiện hoặc quyết định khởi tố những tài liệu, chứng cứ chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Ðiều 167. Gửi đơn khởi kiện, quyết định khởi tố đến Tòa án

1. Người khởi kiện vụ án có thể gửi đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án bằng đường bưu điện.

Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

2. Viện kiểm sát khởi tố vụ án dân sự phải gửi quyết định khởi tố và các tài liệu kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án trực tiếp hoặc bằng đường công văn.

Ngày khởi tố vụ án là ngày Viện trưởng Viện kiểm sát ký quyết định khởi tố.

Ðiều 168. Thủ tục nhận đơn khởi kiện, quyết định khởi tố

Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện, nhận quyết định khởi tố do Viện kiểm sát gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường công văn và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, quyết định khởi tố Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện, quyết định khởi tố cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, cơ quan khởi tố biết, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện hoặc trả lại quyết định khởi tố cho cơ quan khởi tố, nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Ðiều 169. Trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố

1. Khi kiểm tra đơn khởi kiện, quyết định khởi tố, Tòa án trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố trong các trường hợp sau đây:

a) Thời hiệu khởi kiện đã hết;

b) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

c) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các vụ án ly hôn mà Tòa án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc các vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện;

d) Hết thời hạn được thông báo mà người khởi kiện không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

đ) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, khởi tố;

e) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2. Khi trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố thì Tòa án phải có văn bản gửi kèm theo, trong đó phải ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố vụ án dân sự.

Ðiều 170. Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, quyết định khởi tố

1. Trong trường hợp đơn khởi kiện, quyết định khởi tố không tuân thủ các quy định tại Ðiều 164 và Ðiều 165 của Bộ luật này, thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn hợp lý do Tòa án ấn định, nhưng tối đa không quá ba mươi ngày. Trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn thêm nhưng không quá mười lăm ngày.

2. Trong trường hợp người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố đã sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án theo thủ tục chung. Trong trường hợp họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án, thì đơn khởi kiện, quyết định khởi tố và các tài liệu gửi kèm theo được trả lại cho người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố.

Ðiều 171. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, quyết định khởi tố và các tài liệu kèm theo do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố về việc trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố;

b) Nhận lại đơn khởi kiện, quyết định khởi tố và các tài liệu kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án theo thủ tục chung.

Ðiều 172. Thụ lý vụ án

1. Sau khi nhận đơn khởi kiện, quyết định khởi tố vụ án, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thì Tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí.

3. Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai chứng minh họ đã nộp tiền tạm ứng án phí.

4. Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp án phí thì Tòa án thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện, quyết định khởi tố và các tài liệu kèm theo tuân thủ các quy định tại Ðiều 164, Ðiều 165 và Ðiều 166 của Bộ luật này.

Ðiều 173. Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ, thì Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ, trừ trường hợp đang xét xử thì phải xét xử lại từ đầu.

Ðiều 174. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi lập hồ sơ vụ án

Khi lập hồ sơ vụ án Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Thông báo về việc thụ lý vụ án;

2. Yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án;

3. Yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu là giấy tờ, ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án;

4. Lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng;

5. Trưng cầu giám định;

6. Quyết định định giá tài sản;

7. Xem xét, thẩm định tại chỗ;

8. Ủy thác thu thập chứng cứ.

Ðiều 175. Thông báo về việc thụ lý vụ án

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.

2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện hoặc tên, địa chỉ của Viện kiểm sát khởi tố;

d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện hoặc Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án giải quyết;

đ) Danh sách các tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;

e) Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có;

g) Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu.

Ðiều 176. Quyền, nghĩa vụ của người được thông báo

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có.

Trong trường hợp cần gia hạn thêm thì phải có đơn xin gia hạn gửi cho Tòa án, trong đó nêu rõ lý do. Nếu xét thấy việc xin gia hạn thêm là có căn cứ thì Tòa án có thể cho gia hạn thêm nhưng tối đa không được quá mười lăm ngày.

2. Người được thông báo có quyền yêu cầu Tòa án cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện, quyết định khởi tố và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện, quyết định khởi tố do người khởi kiện nộp hoặc Viện kiểm sát khởi tố gửi cho Tòa án.

Ðiều 177. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn

1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố, thì bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.

2. Ðơn yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn;

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác hơn và nhanh hơn.

Ðiều 178. Quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn, thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

1. Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

2. Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

3. Nếu yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án thì sẽ làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác hơn và nhanh hơn.

Ðiều 179. Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập

Thủ tục yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo các quy định của Bộ luật này về thủ tục khởi kiện của nguyên đơn.

Chương XIII

Chuẩn bị xét xử

Ðiều 180. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Ðối với các vụ án quy định tại Ðiều 25 và Ðiều 27 của Bộ luật này, thời hạn tối đa là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Ðối với các vụ án quy định tại Ðiều 29 và Ðiều 31 của Bộ luật này, thời hạn tối đa là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Ðối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thêm thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng tối đa không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Ðiều này.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Ðiều này, tùy từng trường hợp Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

c) Ðình chỉ giải quyết vụ án;

d) Ðưa vụ án ra xét xử.

3. Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn hai tháng.

Ðiều 181. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không thể tiến hành hòa giải được quy định tại Ðiều 182 và Ðiều 183 của Bộ luật này.

2. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;

b) Nội dung của sự thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.

Ðiều 182. Những vụ án dân sự không được hòa giải

Những vụ án dân sự sau đây không được hòa giải:

1. Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;

2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Ðiều 183. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

Những vụ án dân sự thuộc các trường hợp sau đây không tiến hành hòa giải được:

1. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt;

2. Ðương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.

Ðiều 184. Thông báo về phiên hòa giải

Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho các đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải.

Ðiều 185. Thành phần phiên hòa giải

Thành phần phiên hòa giải gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải;

2. Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải;

3. Các bên đương sự.

Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt. Nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án, thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải.

Ðiều 186. Nội dung hòa giải

Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán giới thiệu cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến quan hệ mà họ có tranh chấp để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Khi tiến hành hòa giải Thẩm phán không được để cho các bên đương sự biết về hướng quyết định của Tòa án nếu vụ việc được đưa ra xét xử.

Ðiều 187. Biên bản hòa giải

1. Việc hòa giải phải được Thư ký Tòa án ghi vào biên bản. Biên bản hòa giải phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải;

b) Ðịa điểm tiến hành phiên hòa giải;

c) Thành phần tham gia phiên hòa giải;

d) Ý kiến của các đương sự;

đ) Những nội dung các đương sự đã thỏa thuận được với nhau. Nếu các đương sự không thỏa thuận được thì ghi rõ là không thỏa thuận được.

2. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và chữ ký của Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải.

Ðiều 188. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán khác được Chánh án Tòa án phân công có thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

3. Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Ðiều 185 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải chấp thuận bằng văn bản.

Ðiều 189. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Ðiều 190. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

1. Ðương sự là cá nhân đã chết, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, tổ chức đó;

2. Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

3. Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;

4. Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;

5. Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Ðiều 191. Hậu quả của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Tòa án không xóa tên vụ án dân sự bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đó.

2. Tiền tạm ứng án phí, lệ phí mà đương sự đã nộp được bảo toàn tại Kho bạc nhà nước và được xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.

3. Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ðiều 192. Tiếp tục giải quyết vụ án dân sự bị tạm đình chỉ

Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án dân sự bị tạm đình chỉ khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa.

Ðiều 193. Ðình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;

b) Tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của tổ chức đó;

c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;

d) Viện kiểm sát rút quyết định khởi tố vụ án hoặc tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án;

đ) Các đương sự đã tự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án;

e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;

g) Ðã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;

h) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

2. Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án dân sự đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn cho đương sự nếu vụ án dân sự thuộc trường hợp trả lại đơn kiện, quyết định khởi tố quy định tại Ðiều 169 của Bộ luật này.

Ðiều 194. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Ðiều 193 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.

3. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 2 Ðiều 193 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại cho người đã nộp tiền tạm ứng án phí.

4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Ðiều 195. Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đó.

Ðiều 196. Quyết định đưa vụ án ra xét xử

1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án ra quyết định;

c) Vụ án dân sự Tòa án đưa ra xét xử;

d) Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc người khác khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

đ) Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết, nếu có;

e) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, nếu có;

g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;

h) Xử công khai hay xử kín;

i) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.

2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và cho các đương sự ngay sau khi ra quyết định.

Chương XIV

Phiên Tòa sơ thẩm

Mục 1

Quy định chung về phiên Tòa sơ thẩm

Ðiều 197. Yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ thẩm

Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.

Ðiều 198. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục

1. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; xem xét, kiểm tra các chứng cứ đã thu thập được; nghe phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa.

2. Việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Ðiều 199 của Bộ luật này.

Trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng không quá năm ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xử vụ án được tiếp tục.

Ðiều 199. Thay thế thành viên Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt

1. Trong quá trình xét xử vụ án nếu có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân không tiếp tục tham gia xét xử được, nhưng có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết thì vụ án vẫn có thể được tiếp tục xét xử. Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết phải có mặt tại phiên tòa từ đầu mới được tham gia xét xử tiếp vụ án.

Trong trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.

2. Trong trường hợp không có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết để thay thế thành viên Hội đồng xét xử hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 1 Ðiều này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Ðiều 200. Sự có mặt của nguyên đơn tại phiên tòa

1. Nguyên đơn phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.

2. Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, nếu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đồng ý. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Ðiều 201. Sự có mặt của bị đơn tại phiên tòa

1. Bị đơn phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.

2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

Ðiều 202. Sự có mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của tòa án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Ðiều 203. Xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Ðương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ;

2. Ðương sự có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa.

Ðiều 204. Sự có mặt của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Người được đương sự nhờ và được Tòa án chấp nhận là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ phải tham gia phiên tòa theo giấy báo của Tòa án; nếu vắng mặt thì phải có văn bản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự gửi cho Tòa án hoặc phải thông báo cho đương sự biết để họ tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà không có văn bản bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự gửi cho Tòa án, thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. Trong trường hợp này đương sự tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Ðiều 205. Sự có mặt của người làm chứng

1. Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Trong trường hợp người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai trực tiếp với Tòa án hoặc gửi cho Tòa án, thì chủ tọa phiên Tòa công bố lời khai đó.

2. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Trong trường hợp đặc biệt người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, thì có thể bị dẫn giải đến phiên tòa.

Ðiều 206. Sự có mặt của người giám định

1. Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định.

2. Nếu người giám định vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Ðiều 207. Sự có mặt của người phiên dịch

1. Người phiên dịch có nghĩa vụ tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

2. Nếu người phiên dịch vắng mặt và không có người khác thay thế, thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.

Ðiều 208. Sự có mặt của Kiểm sát viên

1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp có nhiệm vụ tham gia phiên tòa xét xử vụ án mà Viện kiểm sát khởi tố. Ðối với những vụ án khác, Kiểm sát viên có thể tham gia phiên tòa, nếu Viện kiểm sát xét thấy cần thiết. Trong trường hợp cần thiết có thể có Kiểm sát viên dự khuyết.

2. Trong trường hợp phải có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa mà Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi và không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế, thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Ðiều 209. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa

1. Trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Ðiều 50, khoản 2 Ðiều 71 và các điều 200, 201, 202, 205, 206, 207, 208 và khoản 4 Ðiều 231 của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

2. Quyết định hoãn phiên tòa phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án và họ, tên những người tiến hành tố tụng;

c) Vụ án Tòa án đưa ra xét xử;

d) Lý do của việc hoãn phiên tòa;

đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

3. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết. Ðối với người vắng mặt thì Tòa án gửi cho họ Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

4. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong Quyết định hoãn phiên tòa, thì Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Ðiều 210. Nội quy phiên tòa

1. Những người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa.

Mọi người trong phòng xử án đều phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, phải có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa.

Chỉ những người được Tòa án hỏi hoặc cho phép mới được trả lời hoặc phát biểu. Người trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi để phát biểu.

2. Tòa án nhân dân tối cao căn cứ vào quy định tại khoản 1 Ðiều này để ban hành Nội quy phiên tòa.

Ðiều 211. Thủ tục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa

1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

2. Quyết định về thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được viết thành văn bản.

3. Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải viết thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Ðiều 212. Biên bản phiên tòa

1. Biên bản phiên tòa phải ghi đầy đủ các nội dung sau:

a) Các nội dung chính trong quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại khoản 1 Ðiều 196 của Bộ luật này;

b) Mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa;

c) Các câu hỏi và các câu trả lời tại phiên tòa.

2. Ngoài việc ghi biên bản phiên tòa, việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa chỉ có thể được tiến hành khi được sự đồng ý của Hội đồng xét xử.

3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.

4. Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyền được xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.

Ðiều 213. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa

Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Phổ biến nội quy phiên tòa;

2. Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người vắng mặt cần làm rõ lý do;

3. Ổn định trật tự trong phòng xử án;

4. Yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.

Mục 2

Thủ tục bắt đầu phiên Tòa

Ðiều 214. Khai mạc phiên tòa

Phần khai mạc phiên tòa gồm có các việc sau đây:

1. Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử;

2. Thư ký Tòa án báo cáo với Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt;

3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự;

4. Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác;

5. Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch;

6. Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không.

Ðiều 215. Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trong trường hợp không chấp nhận thì cần phải nêu rõ lý do của việc không chấp nhận.

Ðiều 216. Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án phải hoãn phiên tòa, thì Chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không. Nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo thủ tục do Bộ luật này quy định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận. Trong trường hợp không chấp nhận thì cần phải nêu rõ lý do của việc không chấp nhận.

Ðiều 217. Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng

1. Trước khi người làm chứng được hỏi về những vấn đề mà họ biết được có liên quan đến việc giải quyết vụ án, Chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp cần thiết để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan.

2. Trong trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì Chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.

Mục 3

Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

Ðiều 218. Hỏi đương sự về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

Thủ tục xét hỏi được bắt đầu bằng việc Chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề sau đây:

1. Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện hay không;

2. Hỏi bị đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không;

3. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không.

Ðiều 219. Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu

1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.

2. Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện, thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.

Ðiều 220. Thay đổi địa vị tố tụng

1. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình, thì bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn.

2. Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình, thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, còn người nào có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Ðiều 221. Công nhận sự thỏa thuận của đương sự

1. Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án.

2. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật.

Ðiều 222. Nghe lời trình bày của đương sự

1. Trong trường hợp có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình và các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự theo trình tự sau đây:

a) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày các yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến.

Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức khởi kiện vụ án, thì Kiểm sát viên hoặc đại diện tổ chức trình bày về các yêu cầu khởi tố, khởi kiện và các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi tố, khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

b) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày các ý kiến của bị đơn đối với các yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, các đề nghị của bị đơn và các chứng cứ chứng minh cho các đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;

c) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với các yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, các đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ chứng minh cho các đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.

2. Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình, thì họ tự trình bày về các yêu cầu, đề nghị của mình và tự chứng minh.

3. Tại phiên tòa đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình.

Ðiều 223. Thứ tự xét hỏi

Sau khi nghe xong lời trình bày của các đương sự, thứ tự xét hỏi đối với từng người về từng vấn đề như sau:

1. Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân;

2. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự;

3. Ðương sự;

4. Kiểm sát viên trong trường hợp vụ án không phải do Viện kiểm sát khởi tố;

5. Những người tham gia tố tụng khác.

Ðiều 224. Hỏi nguyên đơn

1. Trong trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi riêng từng nguyên đơn.

2. Chỉ xét hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này.

3. Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ sung.

Ðiều 225. Hỏi bị đơn

1. Trong trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng từng bị đơn.

2. Chỉ xét hỏi bị đơn về những vấn đề bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này.

3. Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời bổ sung.

Ðiều 226. Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Trong trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng người một.

2. Chỉ xét hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn đề họ, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho những người này.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho họ trả lời thay cho họ và sau đó họ trả lời bổ sung.

Ðiều 227. Hỏi người làm chứng

1. Trong trường hợp có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một.

2. Trước khi xét hỏi người làm chứng, Chủ tọa phiên tòa phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án. Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì Chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi.

3. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ án các đương sự đang có tranh chấp mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự.

4. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.

5. Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ, Hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên tòa nhìn thấy họ.

Ðiều 228. Công bố các tài liệu của vụ án

1. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau đây:

a) Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên tòa mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã có lời khai;

b) Những lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên tòa mâu thuẫn với những lời khai trước đó;

c) Trong các trường hợp khác mà Hội đồng xét xử thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng.

2. Trừ trường hợp đặc biệt cần để giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ, thì Hội đồng xét xử không công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Ðiều 229. Nghe băng ghi âm, xem băng ghi hình

Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, xem băng ghi hình tại phiên tòa, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều 228 của Bộ luật này.

Ðiều 230. Xem xét vật chứng

Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa.

Khi cần thiết Hội đồng xét xử có thể quyết định tạm ngừng phiên tòa để cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được.

Ðiều 231. Hỏi người giám định

1. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định.

2. Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án.

3. Trong trường hợp người giám định không có mặt tại phiên tòa, thì Chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định.

4. Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên tòa và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án, thì Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung giám định lại. Trong trường hợp này Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Ðiều 232. Kết thúc xét hỏi

Khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xét hỏi xong thì Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem ai có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì Chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi.

Mục 4

Tranh luận tại phiên Tòa

Ðiều 233. Trình tự phát biểu khi tranh luận

1. Sau khi kết thúc xét hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Trình tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện như sau:

a) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu. Nguyên đơn hoặc người đại diện cho nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố hoặc tổ chức khởi kiện thì Kiểm sát viên hoặc đại diện tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền lợi được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến;

b) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu. Bị đơn hoặc người đại diện cho bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;

c) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện cho họ có quyền bổ sung ý kiến.

2. Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình, thì họ tự mình phát biểu khi tranh luận.

Ðiều 234. Phát biểu khi tranh luận và đối đáp

Khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả xét hỏi tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

Ðiều 235. Phát biểu của Kiểm sát viên

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Ðiều 236. Trở lại việc xét hỏi

Nếu qua tranh luận xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

Mục 5

Nghị án và tuyên án

Ðiều 237. Nghị án

1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án.

2. Chỉ có các thành viên chính thức của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa, kết quả xét hỏi tại phiên tòa và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên.

4. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được tất cả các thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án.

5. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài, thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án, nhưng không quá năm ngày làm việc.

Hội đồng xét xử phải thông báo cho mọi người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết cụ thể ngày, giờ và địa điểm tuyên án. Nếu Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt, thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án quy định tại Ðiều 240 của Bộ luật này.

Ðiều 238. Trở lại việc xét hỏi và tranh luận lại

Nếu qua nghị án xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại xét hỏi và tranh luận lại.

Ðiều 239. Bản án

1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án, phần quyết định.

3. Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, đại diện Viện kiểm sát, người giám định, người phiên dịch (nếu có); tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm quyết định đưa vụ án ra xét xử; xử công khai hay xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.

4. Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc khởi tố của Viện kiểm sát, khởi kiện của tổ chức; đề nghị, yêu cầu phản tố của bị đơn; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của Tòa án; điểm, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án căn cứ để quyết định việc giải quyết vụ án.

Trong nhận định của Tòa án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự.

5. Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Tòa án về từng vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án, về việc phải chịu án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trong trường hợp có quyết định được thi hành ngay thì cần ghi rõ quyết định nào được thi hành ngay.

Ðiều 240. Tuyên án
Khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của Hội đồng xét xử. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.

Nếu có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải đọc lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang thứ tiếng mà họ biết.

Ðiều 241. Sửa chữa, bổ sung bản án

1. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về chính tả, về số liệu vì nhầm lẫn hoặc tính toán sai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc sửa chữa, bổ sung và Viện kiểm sát, tổ chức khởi kiện phải được thông báo ngay về việc sửa chữa, bổ sung đó.

2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án phải do Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử vụ án đó thực hiện. Trong trường hợp Thẩm phán đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung đó.

Ðiều 242. Cấp trích lục, bản án

1. Sau khi kết thúc phiên tòa các đương sự, tổ chức khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án.

2. Chậm nhất là mười ngày làm việc, kể từ ngày tuyên án tòa án phải giao bản án cho các đương sự, tổ chức khởi kiện và gửi bản án cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

Phần thứ ba

Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm

Chương XV

Tính chất của xét xử phúc thẩm và kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm

Ðiều 243. Tính chất của xét xử phúc thẩm

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại toàn bộ vụ án hoặc một phần vụ án do bản án, quyết định hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Ðiều 244. Người có quyền kháng cáo

Ðương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, tổ chức khởi kiện có quyền làm đơn kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm.

Ðiều 245. Ðơn kháng cáo

1. Ðơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Tên, địa chỉ của người kháng cáo;

c) Kháng cáo quyết định nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo;

đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

2. Ðơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết và gửi kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

3. Kèm theo đơn kháng cáo là các chứng cứ bổ sung (nếu có) chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Ðiều 246. Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Ðối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là bảy ngày làm việc, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

3. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.

Ðiều 247. Kiểm tra kháng cáo

1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo bao gồm chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng cáo và nội dung đơn kháng cáo đã làm đúng theo quy định tại Ðiều 245 của Bộ luật này hay chưa.

2. Trong trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì đề nghị người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình các chứng cứ (nếu có) chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. Nếu đơn kháng cáo chưa làm đúng quy định tại Ðiều 245 của Bộ luật này thì yêu cầu người kháng cáo sửa chữa, bổ sung.

Ðiều 248. Kháng cáo quá hạn

1. Kháng cáo không làm đúng trong thời hạn quy định tại Ðiều 246 của Bộ luật này là quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo vì lý do kháng cáo quá hạn và các chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.

2. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và các tài liệu kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành lập một Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Khi xét kháng cáo quá hạn Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận, nếu có lý do chính đáng hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn. Lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải được ghi rõ trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và Tòa án cấp sơ thẩm. Nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

Ðiều 249. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm

1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo mức do pháp luật quy định, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, không phải nộp án phí phúc thẩm.

2. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai chứng minh họ đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là họ từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

Ðiều 250. Thông báo về việc kháng cáo

1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo.

2. Người được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

Ðiều 251. Kháng nghị của Viện kiểm sát

Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Ðiều 252. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát

1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;

b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

c) Kháng nghị quyết định nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;

d) Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.

2. Bản kháng nghị phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.

3. Kèm theo bản kháng nghị là các chứng cứ bổ sung (nếu có) chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp.

Ðiều 253. Thời hạn kháng nghị

1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án.

2. Thời hạn kháng nghị đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày làm việc, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Ðiều 254. Thông báo về việc kháng nghị

1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay bản kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.

2. Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

Ðiều 255. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị

Những phần của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.

Ðiều 256. Gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị

Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và các tài liệu kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày:

1. Hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nếu người kháng cáo không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm;

2. Người kháng cáo nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai chứng minh họ đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

Ðiều 257. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

1. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết.

2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên Tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.

Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát đã rút kháng nghị.

3. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải được làm thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị.

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Chương XVI

Chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Ðiều 258. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm

1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và các tài liệu kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.

2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm hoặc Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa.

Ðiều 259. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

1. Trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:

a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

b) Ðình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;

c) Ðưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

Ðối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá một tháng.

2. Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm. Trong trường hợp có lý do chính đáng thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn hai tháng.

3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

Ðiều 260. Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án

Căn cứ để Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án và tiếp tục xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo các quy định tại các điều 190, 191 và 192 của Bộ luật này.

Ðiều 261. Ðình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án

1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án trong trường hợp sau đây:

a) Trong các trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 1 Ðiều 193 của Bộ luật này;

b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo và Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;

c) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

2. Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Ðiều này, thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Ðiều 262. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.

Ðiều 263. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu

1. Sau khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, nếu thuộc trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa.

2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Hết thời hạn đó Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án lại cho Tòa án.

Chương XVII

Thủ tục Xét xử phúc thẩm

Ðiều 264. Phạm vi xét xử phúc thẩm

1. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.

2. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét những phần quyết định của bản án, quyết định sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.

Ðiều 265. Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm

1. Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị. Ðối với các trường hợp khác Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phúc thẩm, nếu thấy cần thiết.

2. Người kháng cáo, đương sự, cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa. Những người tham gia tố tụng khác nếu Tòa án xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị, thì triệu tập tham gia phiên tòa.

Ðiều 266. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm tại phiên tòa

Tại phiên tòa phúc thẩm việc tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 260 và Ðiều 261 của Bộ luật này.

Ðiều 267. Hoãn phiên tòa phúc thẩm

1. Nếu Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp vắng mặt tại phiên tòa trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị, thì phải hoãn phiên tòa.

2. Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa. Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phần vụ án có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt.

3. Nếu người tham gia tố tụng khác không phải là người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì việc hoãn phiên tòa hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện theo các quy định tại các điều từ Ðiều 200 đến Ðiều 207 của Bộ luật này.

4. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Ðiều 209 của Bộ luật này.

Ðiều 268. Chuẩn bị khai mạc phiên Tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên Tòa phúc thẩm

Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo các quy định tại các điều từ Ðiều 213 đến Ðiều 217 của Bộ luật này.

Ðiều 269. Bắt đầu xét hỏi

1. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm được bắt đầu bằng việc một thành viên của Hội đồng xét xử công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị.

2. Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề sau đây:

a) Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không;

b) Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không;

c) Hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không.

Ðiều 270. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm

1. Nếu trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện, thì Hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và tùy từng trường hợp mà giải quyết như sau:

a) Nếu bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;

b) Nếu bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

2. Trong trường hợp Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục chung, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Ðiều 271. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm

1. Trong trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2. Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm. Nếu không thỏa thuận được với nhau thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.

Ðiều 272. Nghe lời trình bày của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm

1. Trong trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị và các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của các đương sự theo thứ tự sau đây:

a) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. Trong trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày theo thứ tự: người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự kháng cáo là nguyên đơn và nguyên đơn; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự kháng cáo là bị đơn và bị đơn; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự kháng cáo là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Trong trường hợp vừa có kháng cáo vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó đến Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;

b) Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến của họ về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Ðương sự có quyền bổ sung ý kiến.

2. Trong trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.

3. Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ mới.

Ðiều 273. Thủ tục xét hỏi và công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm

1. Thủ tục xét hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm.

2. Việc xét hỏi phải được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Ðiều 264 của Bộ luật này.

Ðiều 274. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm

Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng thứ tự phát biểu khi tranh luận được thực hiện theo quy định tại Ðiều 272 của Bộ luật này và chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.

Ðiều 275. Nghị án và tuyên án

Việc nghị án, trở lại việc xét hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án tại Tòa án cấp phúc thẩm được thực hiện như tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Ðiều 276. Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm có các quyền sau đây:

1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2. Sửa bản án sơ thẩm;

3. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án;

4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Ðiều 277. Sửa bản án sơ thẩm

Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật.

Ðiều 278. Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án

Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này, mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được;

2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Ðiều 279. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án

Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án đã thuộc một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 193 của Bộ luật này.

Ðiều 280. Bản án phúc thẩm

1. Tòa án cấp phúc thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra bản án phúc thẩm.

2. Bản án phúc thẩm gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm, phần quyết định.

3. Trong phần mở đầu của bản án phúc thẩm ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, đại diện Viện kiểm sát, người giám định, người phiên dịch (nếu có); tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ; đương sự nào kháng cáo hay Viện kiểm sát kháng nghị; xử công khai hay xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.

4. Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định của Tòa án phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm; điểm, khoản và điều của văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ để quyết định việc giải quyết vụ án.

Trong nhận định của Tòa án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị.

5. Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Tòa án về từng vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về việc phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm.

Ðiều 281. Thủ tục phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị

1. Khi phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên Tòa, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định.

2. Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng nghị.

3. Một thành viên của Hội đồng phúc thẩm xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và các tài liệu kèm theo, nếu có.

4. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.

5. Khi xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền:

a) Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;

b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;

c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

Ðiều 282. Cấp bản án, quyết định phúc thẩm

Trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho Tòa án đã xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Phần thứ tư

Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Chương XVIII

Thủ tục giám đốc thẩm

Ðiều 283. Tính chất của giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng bị kháng nghị khi có một trong các căn cứ quy định tại Ðiều 284 của Bộ luật này.

Ðiều 284. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Ðiều 285. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Ðương sự, cá nhân, tổ chức khác có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và báo cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Ðiều 286 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Ðiều 286 của Bộ luật này.

Ðiều 286. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân cấp huyện.

Ðiều 287. Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị

1. Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc hoãn thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

2. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm.

Ðiều 288. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:

1. Ngày, tháng, năm và số của quyết định kháng nghị;

2. Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;

3. Số, ngày, tháng, năm ra bản án, quyết định bị kháng nghị;

4. Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

5. Nhận xét, phân tích những sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

6. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;

7. Quyết định kháng nghị một phần hay toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

8. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án đó;

9. Ðề nghị của người kháng nghị.

Ðiều 289. Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm

Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành việc kháng nghị trong thời hạn sau đây:

1. Ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với vụ án quy định tại Ðiều 25 và Ðiều 27 của Bộ luật này;

2. Hai năm, kể từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với vụ án quy định tại Ðiều 29 và Ðiều 31 của Bộ luật này.

Ðiều 290. Thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

1. Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Ðiều 289 của Bộ luật này.

2. Người đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm.

Ðiều 291. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm

1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.

2. Trong trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kháng nghị, thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định kháng nghị. Hết thời hạn đó Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm thụ lý và mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án đó.

3. Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị, thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi cho Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm thụ lý và mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm vụ án đó.

Ðiều 292. Thẩm quyền giám đốc thẩm

1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị.

2. Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng nghị.

3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa phúc thẩm, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động của Tòa án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

4. Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của các cấp Tòa án khác nhau được quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Ðiều này thì Tòa án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

Ðiều 293. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm.

Ðiều 294. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm

Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để giám đốc thẩm vụ án.

Ðiều 295. Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm

1. Sau khi Chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án; quá trình xét xử vụ án; quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; đề nghị của người kháng nghị và các căn cứ, nhận định của kháng nghị. Ðại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị.

2. Nếu có người tham gia tố tụng hoặc người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về quyết định kháng nghị trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị.

3. Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Ðại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

4. Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án.

Ðiều 296. Phạm vi xét xử giám đốc thẩm

1. Tòa án cấp giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị.

2. Tòa án cấp giám đốc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.

Ðiều 297. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm có các quyền sau đây:

1. Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;

3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại;

4. Hủy các bản án, quyết định của các Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Ðiều 298. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa

Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới xét xử đúng pháp luật, nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.

Ðiều 299. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại

Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại trong các trường hợp sau đây:

1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;

2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;

3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Ðiều 300. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án

Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bỏ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án, nếu vụ án đã thuộc một trong các trường hợp quy định tại Ðiều 193 của Bộ luật này.

Ðiều 301. Quyết định giám đốc thẩm

1. Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;

b) Họ, tên các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm. Nếu Hội đồng giám đốc thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của Chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên tham gia xét xử;

c) Họ, tên Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa;

d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;

đ) Tên, địa chỉ của các đương sự trong vụ án;

e) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;

h) Nhận định của Hội đồng giám đốc thẩm trong đó phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;

i) Ðiểm, khoản, điều của Bộ luật tố tụng dân sự mà Hội đồng giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;

k) Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm.

Ðiều 302. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm

Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.

Ðiều 303. Gửi quyết định giám đốc thẩm

Quyết định giám đốc thẩm phải được gửi cho:

1. Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;

2. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền;

3. Ðương sự và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ theo quyết định giám đốc thẩm.

Chương XIX

Thủ tục tái thẩm

Ðiều 304. Tính chất của tái thẩm

Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi ra bản án, quyết định đó.

Ðiều 305. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng;

3. Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình ra bản án, quyết định trái pháp luật;

4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

Ðiều 306. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện

1. Ðương sự, cá nhân, tổ chức có quyền phát hiện tình tiết mới là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và báo cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Ðiều 307 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp phát hiện tình tiết mới là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông báo cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Ðiều 307 của Bộ luật này.

Ðiều 307. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm

Những người sau đây có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:

1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án cấp huyện;

3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có kết quả xét xử tái thẩm.

Ðiều 308. Thời hạn kháng nghị tái thẩm

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị phát hiện được tình tiết quy định tại Ðiều 305 của Bộ luật này.

Ðiều 309. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm

Hội đồng tái thẩm có các quyền sau đây:

1. Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung;

3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án.

Ðiều 310. Áp dụng các quy định của thủ tục giám đốc thẩm

Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định của Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm.

Phần thứ năm

Thủ tục giải quyết việc dân sự

Chương XX

Quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự

Ðiều 311. Phạm vi áp dụng

Tòa án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Ðiều 26; các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Ðiều 28 của Bộ luật này.

Việc dân sự là việc cá nhân, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động.

Ðiều 312. Ðơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự

1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại mục 2 Chương III của Bộ luật này.

2. Ðơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm viết đơn;

b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu;

c) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;

e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

g) Phần cuối đơn người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu là tổ chức thì đại diện hợp pháp của tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu của tổ chức đó.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Ðiều 313. Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

1. Tòa án phải mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự.

2. Ðại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp. Nếu vắng mặt đại diện Viện kiểm sát thì phải hoãn phiên họp.

3. Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án.

Người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp. Nếu người có đơn yêu cầu đề nghị giải quyết việc dân sự không có sự tham gia của họ, thì Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt họ. Nếu người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai liên tiếp mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự thì quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục chung vẫn được bảo đảm.

4. Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết Tòa án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp. Nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp.

Ðiều 314. Trình tự tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự

1. Phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Thư ký Tòa án báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;

b) Thẩm phán khai mạc phiên họp; kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ;

c) Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết; lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

d) Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ trong việc giải quyết việc dân sự;

đ) Hỏi người làm chứng, đề nghị người giám định trình bày kết luận giám định và giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn;

e) Xem xét chứng cứ;

g) Ðại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự;

h) Thẩm phán xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự.

2. Trong trường hợp có người vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố các tài liệu do người đó cung cấp hoặc đã khai báo, trình bày với Tòa án.

Ðiều 315. Quyết định giải quyết việc dân sự

1. Quyết định giải quyết việc dân sự phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án ra quyết định;

c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;

d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu giải quyết việc dân sự;

đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết;

e) Tên, địa chỉ của người có liên quan;

g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu;

h) Căn cứ pháp luật để giải quyết việc dân sự;

i) Quyết định của Tòa án;

k) Lệ phí phải nộp.

2. Quyết định giải quyết việc dân sự phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự và cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyết định đó.

Ðiều 316. Kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự

Người yêu cầu và cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm, trừ các quyết định quy định tại các khoản 2 và 3 Ðiều 28 của Bộ luật này.

Ðiều 317. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị

1. Người yêu cầu và cá nhân, tổ chức có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định đó trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định. Trong trường hợp họ không có mặt tại phiên họp thì thời hạn đó tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn bảy ngày làm việc, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Ðiều 318. Thủ tục phúc thẩm xét quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị

Thủ tục phúc thẩm xét quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại Ðiều 281 của Bộ luật này.

Chương XXI

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Ðiều 319. Ðơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

1. Người có quyền, lợi ích liên quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự phải có kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.

4. Gửi kèm theo đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có các chứng cứ chứng minh người đó bị nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.

Ðiều 320. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không quá một tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn đó Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này khi nhận được kết luận giám định Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Ðiều 321. Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

2. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Trong quyết định tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

Ðiều 322. Ðơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

1. Khi xét thấy người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

Ðiều 323. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu và quyết định của Tòa án

1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo quy định tại Ðiều 320 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

3. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Chương XXII

Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Ðiều 324. Ðơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích trong sáu tháng liền trở lên và đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có các chứng cứ chứng minh là người đó biệt tích trong sáu tháng liền trở lên. Trong trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó thì phải cung cấp tài liệu về tình hình tài sản của người đó và việc quản lý tài sản hiện có, danh sách những người thân thích của người đó.

Ðiều 325. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là hai mươi ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn đó Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Tòa án ra các quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

3. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Ðiều 326. Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

2. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu, thì ra quyết định chấp nhận đơn yêu cầu và ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Nếu có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận, thì trong quyết định chấp nhận đơn yêu cầu Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðiều 327. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có các nội dung chính sau đây:

1. Ngày, tháng, năm ra thông báo;

2. Tên Tòa án ra thông báo;

3. Quyết định số và ngày, tháng, năm của Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú;

4. Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo;

5. Họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người cần tìm kiếm và địa chỉ cư trú của người đó trước khi biệt tích;

6. Ðịa chỉ liên hệ của cá nhân, tổ chức, nếu người cần tìm kiếm biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người cần tìm kiếm.

Ðiều 328. Công bố thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Ðài phát thanh hoặc Ðài truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

2. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

Ðiều 329. Hiệu lực của Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú cũng như Thông báo quy định tại Ðiều 327 của Bộ luật này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.

Chương XXIII

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích

Ðiều 330. Ðơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích hai năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm. Trong trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

Ðiều 331. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

2. Nội dung thông báo và công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Ðiều 327 và Ðiều 328 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo là bốn tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.

3. Trong thời hạn công bố thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Ðiều 332. Quyết định tuyên bố một người mất tích

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hết thời hạn công bố thông báo, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

2. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu.

3. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định tuyên bố mất tích. Nếu có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðiều 333. Ðơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích

1. Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống, thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các chứng cứ chứng minh người bị tuyên bố mất tích đã trở về hoặc chứng minh xác thực là người đó còn sống.

Ðiều 334. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

2. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu.

3. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích. Trong quyết định đó Tòa án cần phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

Chương XXIV

Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

Ðiều 335. Ðơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp cụ thể nào theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðiều 336. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết tối đa là một tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Hết thời hạn đó Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

3. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

Ðiều 337. Quyết định tuyên bố một người là đã chết

1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

2. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong quyết định tuyên bố một người là đã chết, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.

Ðiều 338. Ðơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết

1. Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.

2. Ðơn yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết phải làm theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 312 của Bộ luật này.

3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các chứng cứ chứng minh người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc chứng minh xác thực là người đó còn sống.

Ðiều 339. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết, Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

2. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu.

3. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong quyết định đó Tòa án cần phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.

Chương XXV

Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam

Ðiều 340. Những việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tòa án có thẩm quyền giải quyết những việc dân sự sau đây liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam:

1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên;

2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;

3. Hủy quyết định trọng tài;

4. Các việc dân sự khác mà pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam có quy định.

Ðiều 341. Thủ tục giải quyết

Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam.

Phần thứ sáu

Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

Chương XXVI

Quy định chung về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài

Ðiều 342. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án, quyết định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam thì được coi là bản án, quyết định dân sự.

2. Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại.

Ðiều 343. Nguyên tắc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, trong các trường hợp sau đây:

a) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án của nước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này;

b) Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.

2. Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài trong trường hợp quyết định được tuyên tại nước hoặc của Trọng tài của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này.

3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi phải có điều kiện ký kết, gia nhập điều ước quốc tế.

4. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.

5. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận, thì đương nhiên được công nhận tại Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

6. Tòa án Việt Nam chỉ xem xét việc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam khi có đơn yêu cầu không công nhận.

Ðiều 344. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án, quyết định của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm gửi đơn yêu cầu.

2. Ðương sự, người có lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

Ðiều 345. Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị

Ðương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại theo quy định của Bộ luật này.

Ðiều 346. Bảo đảm hiệu lực của quyết định của Tòa án Việt Nam công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận, thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam.

2. Quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật.

Ðiều 347. Thông báo kết quả xét đơn yêu cầu

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định, Tòa án Việt Nam thông qua Bộ Tư pháp thông báo kết quả việc xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam cho Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định đó và cho các đương sự, cá nhân, tổ chức có liên quan đến quyết định đó của Tòa án Việt Nam; thông báo quyết định xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài cho cá nhân, tổ chức đã gửi đơn yêu cầu và cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến quyết định đó của Tòa án Việt Nam.

Ðiều 348. Bảo đảm quyền chuyển tiền và tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền và tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành từ Việt Nam ra nước ngoài. Việc chuyển tiền, tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Ðiều 349. Lệ phí công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài

Người gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài phải nộp một khoản lệ phí theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Chương XXVII

Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài

Ðiều 350. Ðơn yêu cầu công nhận và cho thi hành

1. Ðơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài phải gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam và phải có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi hành án là tổ chức thì phải ghi tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của tổ chức đó;

b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là tổ chức thì ghi tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của tổ chức đó;

Trong trường hợp người phải thi hành là cá nhân không cư trú hoặc làm việc tại Việt Nam, người phải thi hành là tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam, thì trong đơn yêu cầu còn phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam;

c) Yêu cầu của người được thi hành;

Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được thi hành một phần, thì phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần còn lại có yêu cầu công nhận và cho thi hành tiếp tại Việt Nam.

3. Ðơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Ðiều 351. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu

1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các giấy tờ, tài liệu được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan thì kèm theo đơn yêu cầu phải có bản sao hợp pháp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; văn bản xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những điểm này; văn bản xác nhận việc đã gửi cho người phải thi hành bản sao bản án, quyết định đó. Nếu người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó vắng mặt tại phiên tòa, thì phải có văn bản xác nhận người đó đã được triệu tập hợp lệ.

2. Các giấy tờ tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Ðiều 352. Chuyển hồ sơ cho Tòa án

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp phải chuyển hồ sơ đến Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Ðiều 34 và Ðiều 35 của Bộ luật này.

Ðiều 353. Thụ lý hồ sơ và yêu cầu giải thích

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến, Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người gửi đơn, Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ.

Văn bản yêu cầu giải thích và văn bản trả lời được gửi thông qua Bộ Tư pháp Việt Nam.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa án Việt Nam yêu cầu giải thích, Bộ Tư pháp gửi cho người gửi đơn yêu cầu hoặc Tòa án nước ngoài văn bản yêu cầu giải thích đó.

4. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời yêu cầu giải thích, Bộ Tư pháp gửi cho Tòa án Việt Nam đã yêu cầu văn bản trả lời đó.

Ðiều 354. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày thụ lý tùy từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Ðình chỉ việc xét đơn yêu cầu, nếu người gửi đơn rút đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi hành hoặc người phải thi hành là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế hoặc nếu người phải thi hành là tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Ðình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại hồ sơ cho Bộ Tư pháp trong trường hợp không đúng thẩm quyền hoặc không xác định được địa chỉ của người phải thi hành hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành;

c) Mở phiên tòa xét đơn yêu cầu.

Trong trường hợp có yêu cầu giải thích thì thời hạn được kéo dài thêm hai tháng.

2. Tòa án phải mở phiên tòa trong thời hạn một tháng, kể từ ngày ra quyết định mở phiên tòa xét đơn yêu cầu.

Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn mười lăm ngày trước ngày mở phiên tòa. Hết thời hạn này Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên tòa xét đơn yêu cầu.

Ðiều 355. Phiên tòa xét đơn yêu cầu

1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên tòa do một Hội đồng gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm Chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa. Trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa.

3. Phiên tòa được tiến hành với sự có mặt của người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành, nếu người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đơn yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

4. Hội đồng xét đơn yêu cầu không xét xử lại vụ án mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định của Bộ luật này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập để quyết định.

5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.

Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

Ðiều 356. Những trường hợp không công nhận

Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

1. Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó;

2. Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ;

3. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Tòa án Việt Nam;

4. Về cùng vụ án này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ án, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ án đó;

5. Ðã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật Việt Nam;

6. Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Ðiều 357. Gửi bản sao quyết định của Tòa án

Ngay sau khi ra quyết định quy định tại Ðiều 354 và Ðiều 355 của Bộ luật này, Tòa án gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp bản sao quyết định đó; nếu đương sự ở nước ngoài thì bản sao quyết định được gửi thông qua Bộ Tư pháp.

Ðiều 358. Kháng cáo, kháng nghị

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định quy định tại Ðiều 354 và Ðiều 355 của Bộ luật này, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó. Ðơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.

Trong trường hợp đương sự không có mặt tại phiên tòa xét đơn yêu cầu, thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản sao quyết định đó.

Nếu có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.

2. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại Ðiều 354 và Ðiều 355 của Bộ luật này.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Ðiều 359. Xét kháng cáo, kháng nghị

1. Tòa án nhân dân tối cao xét quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Nếu cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại Ðiều 353 của Bộ luật này, thì thời hạn được kéo dài không quá hai tháng.

2. Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán

àm Chủ tọa theo sự phân công của Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao.

Phiên tòa xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên tòa xét đơn yêu cầu quy định tại Ðiều 355 của Bộ luật này.

3. Hội đồng có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp tỉnh hoặc đình chỉ việc xét kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đương sự rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị hoặc có căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Ðiều 354 của Bộ luật này.

Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

Chương XXVIII

Xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam

Ðiều 360. Thời hạn gửi đơn yêu cầu không công nhận

1. Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam, đương sự, người có lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự đó đến Bộ Tư pháp.

2. Trong trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Ðiều này, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.

Việc khôi phục thời hiệu do Chánh án Tòa án thụ lý đơn xét và quyết định.

Ðiều 361. Ðơn yêu cầu không công nhận

1. Ðơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài phải có các nội dung chính sau đây:

a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người làm đơn là cá nhân; nếu là tổ chức, thì ghi tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của tổ chức đó;

b) Yêu cầu của người làm đơn.

2. Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản sao hợp pháp bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài và các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh yêu cầu không công nhận của mình là có căn cứ.

3. Ðơn yêu cầu và các giấy tờ, tài liệu kèm theo bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được công chứng, chứng thực hợp pháp.

4. Bộ Tư pháp chuyển đơn yêu cầu và các giấy tờ, tài liệu kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Ðiều 352 của Bộ luật này.

Ðiều 362. Xét đơn yêu cầu không công nhận

1. Việc chuẩn bị xét đơn yêu cầu và việc xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được tiến hành theo quy định tại Ðiều 354 và Ðiều 355 của Bộ luật này.

2. Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một trong các quyết định sau đây:

a) Không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;

b) Bác đơn yêu cầu không công nhận.

3. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam không được công nhận trong các trường hợp quy định tại Ðiều 356 của Bộ luật này.

Ðiều 363. Gửi bản sao quyết định, quyền kháng cáo, kháng nghị

Việc gửi bản sao quyết định của Tòa án; quyền kháng cáo, kháng nghị và việc xét lại quyết định được tiến hành theo quy định tại Ðiều 357 và Ðiều 358 của Bộ luật này.

Chương XXIX

Thủ tục công nhận và

thi hành tại việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài

Ðiều 364. Ðơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài

1. Ðơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam và phải có các nội dung chính sau đây:

a) Tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của tổ chức được thi hành hoặc họ tên, địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc của cá nhân được thi hành và của người đại diện hợp pháp tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân đó, nếu có;

b) Tên gọi đầy đủ và địa chỉ trụ sở chính của tổ chức phải thi hành hoặc họ tên, địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc của cá nhân phải thi hành;

Trong trường hợp tổ chức phải thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt Nam, thì còn phải ghi rõ địa điểm nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;

c) Yêu cầu của tổ chức, cá nhân được thi hành.

2. Ðơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Ðiều 365. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu

1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là các giấy tờ, tài liệu được quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan, thì kèm theo đơn yêu cầu phải có bản sao hợp pháp quyết định của Trọng tài nước ngoài; bản sao hợp pháp thỏa thuận trọng tài của các bên về việc giải quyết tranh chấp có thể hoặc đã phát sinh giữa họ với nhau theo thể thức trọng tài mà pháp luật của nước hữu quan quy định có thể giải quyết được theo thể thức đó.

Thỏa thuận trọng tài có thể là điều khoản về trọng tài đã được ghi trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng về trọng tài được các bên ký kết sau khi phát sinh tranh chấp.

2. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu nếu bằng tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt và phải được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Ðiều 366. Chuyển hồ sơ cho Tòa án

1. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Ðiều 34 và Ðiều 35 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ cho Tòa án mà sau đó lại nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho biết đang xem xét hoặc đã hủy bỏ, đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, thì Bộ Tư pháp thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án biết.

Ðiều 367. Thụ lý hồ sơ

1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến, Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo cho tổ chức, cá nhân phải thi hành và Viện kiểm sát cùng cấp biết.

2. Tòa án có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã gửi đơn yêu cầu giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ.

Ðiều 368. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

1. Trong thời hạn hai tháng, kể từ ngày thụ lý tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đang xem xét quyết định của Trọng tài nước ngoài;

b) Ðình chỉ việc xét đơn yêu cầu, nếu tổ chức, cá nhân được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc tổ chức, cá nhân phải thi hành đã tự nguyện thi hành; tổ chức phải thi hành đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa vụ của tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc cá nhân phải thi hành đã chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được thừa kế;

c) Ðình chỉ việc xét đơn yêu cầu trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài;

d) Ðình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại hồ sơ cho Bộ Tư pháp trong trường hợp không đúng thẩm quyền hoặc tổ chức phải thi hành không có trụ sở chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc không xác định được địa điểm nơi có tài sản và các tài sản liên quan đến việc thi hành tại Việt Nam;

đ) Mở phiên tòa xét đơn yêu cầu.

Trong trường hợp có yêu cầu giải thích thì thời hạn được kéo dài thêm hai tháng.

2. Tòa án phải mở phiên tòa xét đơn trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên tòa xét đơn yêu cầu. Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn mười ngày làm việc, trước ngày mở phiên tòa. Hết thời hạn này Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên tòa xét đơn yêu cầu.

Ðiều 369. Phiên tòa xét đơn yêu cầu

1. Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên tòa do một Hội đồng gồm ba Thẩm phán, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án.

2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa. Trong trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt, thì phải hoãn phiên tòa.

3. Phiên tòa được tiến hành với sự có mặt của người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Việc xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành, nếu người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt họ hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

4. Khi xét đơn yêu cầu, Hội đồng không xét xử lại vụ tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài giải quyết mà chỉ kiểm tra, đối chiếu quyết định của Trọng tài nước ngoài và giấy tờ, tài liệu kèm theo với quy định của Bộ luật này, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập để ra quyết định.

5. Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu, nghe ý kiến của người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.

Hội đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài hoặc quyết định không công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài.

Ðiều 370. Những trường hợp không công nhận

1. Quyết định của Trọng tài nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

a) Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó;

b) Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi quyết định đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;

c) Tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại Trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình;

d) Quyết định của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài. Trong trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài, thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ) Thành phần của Trọng tài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng tài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi quyết định của Trọng tài được tuyên, nếu thỏa thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó;

e) Quyết định của Trọng tài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;

g) Quyết định của Trọng tài đã bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi quyết định đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng, hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.

2. Quyết định của Trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, nếu Tòa án Việt Nam xét thấy:

a) Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài;

b) Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Ðiều 371. Gửi quyết định của Tòa án

Ngay sau khi ra quyết định quy định tại Ðiều 368 và Ðiều 369 của Bộ luật này, Tòa án gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp quyết định đó; nếu đương sự ở nước ngoài thì quyết định được gửi thông qua Bộ Tư pháp.

Ðiều 372. Kháng cáo, kháng nghị

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định quy định tại Ðiều 368 và Ðiều 369 của Bộ luật này, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó. Ðơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.

Trong trường hợp đương sự không có mặt tại phiên Tòa xét đơn yêu cầu, thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản sao quyết định đó. Nếu kháng cáo quá hạn vì có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn kháng cáo.

2. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại Ðiều 368 và Ðiều 369 của Bộ luật này.

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ba mươi ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Ðiều 373. Xét kháng cáo, kháng nghị

1. Tòa án nhân dân tối cao xét quyết định của Tòa án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ; nếu cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 2 Ðiều 367 của Bộ luật này, thì thời hạn được kéo dài không quá hai tháng.

2. Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao. Phiên tòa xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên tòa xét đơn yêu cầu quy định tại Ðiều 369 của Bộ luật này.

3. Hội đồng có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp tỉnh, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc xét kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đương sự rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng nghị hoặc có căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Ðiều 368 của Bộ luật này.

Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

Ðiều 374. Hủy quyết định công nhận và cho thi hành

1. Trong trường hợp nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đang xem xét việc hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có quyết định thi hành tại Việt Nam, thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài và gửi bản sao quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể áp dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, nếu có yêu cầu của tổ chức, cá nhân được thi hành.

2. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản của Bộ Tư pháp về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy bỏ quyết định đó và gửi bản sao quyết định này cho cơ quan thi hành án.

Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài.

Phần thứ bảy

Thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Chương XXX

Quy định chung về thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Ðiều 375. Những bản án, quyết định được thi hành

1. Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án được thi hành là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:

a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;

b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

c) Quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân;

b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử hoặc thi hành án.

Ðiều 376. Căn cứ để đưa ra thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Ðể thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải có các căn cứ sau đây:

1. Bản án, quyết định được thi hành quy định tại Ðiều 375 của Bộ luật này;

2. Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Ðiều 377. Quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Nếu các bên đương sự không tự nguyện thi hành, thì người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

2. Người yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải có đơn yêu cầu thi hành án hoặc trực tiếp đến cơ quan thi hành án nêu rõ nội dung yêu cầu và các thông tin liên quan đến việc thi hành án kèm theo bản án hoặc quyết định có yêu cầu được thi hành.

Ðiều 378. Tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Nhà nước khuyến khích các đương sự tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

2. Người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

3. Căn cứ quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án có thẩm quyền, Chấp hành viên định cho người phải thi hành án thời hạn không quá ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều 379 của Bộ luật này.

Ðiều 379. Cưỡng chế thi hành án

1. Người phải thi hành án có điều kiện thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà không tự nguyện thi hành, thì bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án quy định tại khoản 3 Ðiều 378 của Bộ luật này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành án, thì cơ quan thi hành án phải ra quyết định cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

2. Trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án, thì Chấp hành viên có quyền áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

3. Không được tổ chức cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật lao động và trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau hoặc vì lý do đặc biệt do Chính phủ quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Ðiều này, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Ðiều 380. Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Cá nhân, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu của Chấp hành viên trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án ở địa phương mình theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

Tư lệnh quân khu và tương đương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức phối hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án trong quân khu và tương đương.

3. Cơ quan Công an có nhiệm vụ giữ gìn trật tự, kịp thời ngăn chặn những hành vi cản trở, chống đối việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Trong trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, thì cơ quan Công an và các cơ quan hữu quan khác có nhiệm vụ phối hợp thực hiện theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hoặc Chấp hành viên.

Ðiều 381. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được tham gia và có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Ðiều 382. Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Viện kiểm sát nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.

Chương XXXI

Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Ðiều 383. Cấp bản án, quyết định của Tòa án

Khi bản án, quyết định của Tòa án thuộc trường hợp được thi hành theo quy định tại Ðiều 375 của Bộ luật này, thì Tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản án hoặc quyết định đó có ghi "để thi hành".

Tòa án phải giải thích cho người được thi hành, người phải thi hành bản án, quyết định về quyền yêu cầu, thời hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

Ðiều 384. Thời hạn chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án

1. Ðối với những bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại khoản 2 Ðiều 375 của Bộ luật này thì Tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày ra bản án, quyết định đó.

Ðối với các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì Tòa án đã ra quyết định phải chuyển giao ngay quyết định cho cơ quan thi hành án cùng cấp.

2. Ðối với bản án, quyết định khác, thì Tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó phải chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan thi hành án cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

3. Khi chuyển giao bản án, quyết định Tòa án phải gửi kèm theo biên bản kê biên, tạm giữ tang vật, tài sản, các tài liệu khác có liên quan (nếu có).

Ðiều 385. Giải thích bản án, quyết định của Tòa án

1. Người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án phải có văn bản giải thích và gửi cho người có yêu cầu, Viện kiểm sát cùng cấp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

2. Thẩm phán ra quyết định hoặc Thẩm phán là chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định của Tòa án. Trong trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án đó, thì Chánh án Tòa án đó có trách nhiệm giải thích bản án, quyết định của Tòa án.

3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào biên bản phiên Tòa và biên bản nghị án.

Ðiều 386. Phí thi hành

1. Người được thi hành bản án, quyết định có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành bản án, quyết định của Tòa án tính theo giá ngạch trên giá trị tài sản mà người yêu cầu thi hành án thực nhận.

2. Mức phí thi hành án, việc thu, nộp, quản lý, sử dụng và xét miễn, giảm phí thi hành án thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Ðiều 387. Ủy thác thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định ủy thác thi hành bản án, quyết định của Tòa án cho cơ quan thi hành án nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc, nơi có trụ sở hoặc có tài sản.

Thời hạn ra quyết định ủy thác thi hành bản án, quyết định của Tòa án không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác.

2. Chính phủ quy định việc ủy thác thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Ðiều 388. Thời hiệu yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền ra quyết định thi hành bản án, quyết định đó.

Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án, thì thời hạn ba năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Ðối với bản án, quyết định của Tòa án thi hành theo định kỳ, thì thời hạn ba năm được áp dụng cho từng định kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn, thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng đó không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Ðối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định tại Ðiều 287 của Bộ luật này, thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn, tạm đình chỉ thi hành án.

Ðiều 389. Các biện pháp cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa án

1. Chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án sau đây:

a) Khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án;

b) Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

c) Phong tỏa tài khoản, tài sản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước;

d) Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án;

đ) Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ;

e) Cưỡng chế buộc giao nhà, quyền sử dụng đất hoặc giao vật hoặc tài sản khác;

g) Cấm hoặc buộc người phải thi hành án làm công việc nhất định.

2. Ðiều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.

Phần thứ tám

Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Chương XXXII

Xử lý các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự

Ðiều 390. Biện pháp xử lý đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn không có mặt tại Tòa án hoặc không có mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng thì tùy từng trường hợp có thể bị Tòa án phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.

Ðiều 391. Biện pháp xử lý người có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng

1. Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị Tòa án quyết định phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hoặc khởi tố vụ án hình sự:

a) Làm giả, hủy hoại những chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án;

b) Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;

c) Từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu;

d) Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;

đ) Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết luận sai với sự thật khách quan;

e) Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa khi dịch;

g) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tiến hành tố tụng; đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở người tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ do Bộ luật này quy định;

h) Các hành vi vi phạm khác mà pháp luật có quy định.

2. Cơ quan Công an cùng cấp có nhiệm vụ thi hành quyết định của Tòa án tạm giữ người có hành vi vi phạm.

Ðiều 392. Biện pháp xử lý người làm chứng cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án

1. Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu thập, xác minh chứng cứ hoặc xét xử vụ án thì Tòa án có quyền ra quyết định áp giải, cảnh cáo, phạt tiền.

2. Quyết định áp giải người làm chứng phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt.

3. Cơ quan Công an cùng cấp có nhiệm vụ thi hành quyết định của Tòa án áp giải người làm chứng. Người thi hành quyết định áp giải người làm chứng phải đọc, giải thích quyết định áp giải cho người bị áp giải biết và lập biên bản về việc áp giải.

Ðiều 393. Biện pháp xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa

1. Người vi phạm nội quy phiên tòa, tùy từng trường hợp có thể bị Chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án hoặc bị tạm giữ.

2. Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa thi hành quyết định của Chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ người gây rối trật tự tại phiên tòa.

3. Trong trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự.

Ðiều 394. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự

1. Trong trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Ðiều 391 và khoản 3 Ðiều 393 của Bộ luật này thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định khởi tố, Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án và các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội.

2. Viện kiểm sát phải xem xét việc khởi tố, truy tố bị can trong thời hạn do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Nếu Viện kiểm sát không khởi tố, truy tố bị can thì Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do của việc không khởi tố, truy tố bị can cho Tòa án đã ra quyết định khởi tố vụ án biết.

Ðiều 395. Biện pháp xử lý tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án

1. Tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp chứng cứ mà tổ chức đó đang giữ, thì có thể bị Tòa án cảnh cáo, phạt tiền hoặc ra quyết định cưỡng chế thi hành.

2. Người đứng đầu tổ chức đó tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Ðiều 396. Thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt

Thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

Chương XXXIII

Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Ðiều 397. Quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự có thể bị khiếu nại

1. Cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Ðối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án và các quyết định tố tụng khác do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự ban hành, nếu có kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết theo quy định của các chương khác tương ứng của Bộ luật này.

Ðiều 398. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại

1. Người khiếu nại có quyền sau đây:

a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;

b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án dân sự;

c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại;

d) Ðược nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;

đ) Ðược khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

2. Người khiếu nại có nghĩa vụ sau đây:

a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết;

b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó;

c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Ðiều 399. Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại

1. Người bị khiếu nại có quyền sau đây:

a) Ðưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự bị khiếu nại;

b) Ðược nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của mình.

2. Người bị khiếu nại có nghĩa vụ sau đây:

a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự bị khiếu nại; cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;

c) Bồi thường thiệt hại hoặc hoàn trả, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Ðiều 400. Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại là mười lăm ngày, kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.

Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn quy định tại Ðiều này, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Ðiều 401. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát

Khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của Kiểm sát viên, Phó Viện trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng.

Ðiều 402. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án và Chánh án

Khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán, Phó Chánh án và Chánh án Tòa án do Chánh án Tòa án giải quyết trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết cuối cùng.

Ðiều 403. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với người giám định

Khiếu nại về hành vi trong tố tụng dân sự của người giám định do Thủ trưởng Tổ chức giám định tư pháp trực tiếp quản lý người giám định giải quyết trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết thì người khiếu nại có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của Tổ chức giám định tư pháp. Trong thời hạn không quá mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

Ðiều 404. Người có quyền tố cáo

Công dân có quyền tố cáo với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người nào có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Ðiều 405. Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo

1. Người tố cáo có quyền sau đây:

a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cá nhân, tổ chức có thẩm quyền;

b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình;

c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo;

d) Yêu cầu tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.

2. Người tố cáo có nghĩa vụ sau đây:

a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;

b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật.

Ðiều 406. Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo

1. Người bị tố cáo có quyền sau đây:

a) Ðược thông báo về nội dung tố cáo;

b) Ðưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;

c) Ðược khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;

d) Yêu cầu cá nhân, tổ chức có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.

2. Người bị tố cáo có nghĩa vụ sau đây:

a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu;

b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền;

c) Bồi thường thiệt hại hoặc hoàn trả, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra.

Ðiều 407. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo

1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.

Trong trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, thì Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết.

Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá sáu mươi ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá chín mươi ngày.

2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ðiều 408. Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo

Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được tiến hành theo quy định của Chương này và các quy định khác của pháp luật về khiếu nại, tố cáo không trái với quy định của Chương này.

Ðiều 409. Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

2. Người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Ðiều 410. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định của Chương này.

Phần thứ chín

Thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự

Chương XXXIV

Quy định chung về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Ðiều 411. Nguyên tắc áp dụng

1. Tòa án áp dụng các quy định tại Chương XXXIV và Chương XXXV của Bộ luật này để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Trường hợp trong các chương này không có quy định thì được áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.

2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Ðiều 412. Quyền, nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, tổ chức nước ngoài

1. Công dân nước ngoài, người không quốc tịch, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế (gọi chung là cá nhân, tổ chức nước ngoài) có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.

2. Khi tham gia tố tụng dân sự cá nhân, tổ chức nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, tổ chức Việt Nam.

3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có đi có lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng đối với người nước ngoài mà Tòa án nước đó đã hạn chế quyền tố tụng đối với công dân, tổ chức Việt Nam.

Ðiều 413. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của công dân nước ngoài, người không quốc tịch

1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của công dân nước ngoài, người không quốc tịch được xác định như sau:

a) Theo pháp luật của nước mà công dân đó có quốc tịch. Trong trường hợp công dân có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài thì theo pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp công dân có nhiều quốc tịch của nhiều nước ngoài khác nhau thì theo pháp luật của nước nơi công dân đó sinh sống, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác;

b) Theo pháp luật Việt Nam, nếu công dân nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;

c) Theo pháp luật của nước nơi người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài;

d) Theo pháp luật Việt Nam, nếu hành vi tố tụng dân sự được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Công dân nước ngoài, người không quốc tịch có thể được công nhận có năng lực hành vi tố tụng dân sự trên lãnh thổ Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Ðiều 414. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế trong tố tụng dân sự

1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi tổ chức đó được thành lập, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam có quy định khác.

2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức quốc tế được xác định trên cơ sở điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức quốc tế hoặc điều ước quốc tế đã được ký kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Ðiều 415. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là người nước ngoài

Ðương sự là người nước ngoài tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền nhờ luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việt Nam về luật sư.

Chương XXXV

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Ðiều 416. Quy định chung về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

1. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo quy định tại Chương III của Bộ luật này, nếu Chương này không có quy định khác.

2. Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau đây:

a) Bị đơn là tổ chức nước ngoài có trụ sở chính đóng trên lãnh thổ Việt Nam hoặc bị đơn có cơ quan quản lý, chi nhánh, văn phòng đại diện đóng trên lãnh thổ Việt Nam;

b) Bị đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam hoặc có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;

c) Nguyên đơn là công dân nước ngoài, người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam đối với vụ việc dân sự về yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng, xác định cha mẹ;

d) Các vụ việc dân sự về các quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật Việt Nam hoặc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, nhưng có ít nhất một trong các đương sự là người nước ngoài;

đ) Các vụ việc dân sự về các quan hệ dân sự mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài, nhưng các đương sự đều là công dân, tổ chức Việt Nam và nguyên đơn hoặc bị đơn cư trú tại Việt Nam;

e) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện Toàn bộ hoặc một phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;

g) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam.

Ðiều 417. Thẩm quyền đặc biệt của Tòa án Việt Nam

1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết đặc biệt của Tòa án Việt Nam:

a) Vụ án dân sự có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;

b) Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển, mà người vận chuyển có trụ sở chính hoặc chi nhánh tại Việt Nam;

c) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống ở Việt Nam.

2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết đặc biệt của Tòa án Việt Nam:

a) Xác định một sự kiện pháp lý, nếu sự kiện đó xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;

b) Tuyên bố công dân nước ngoài, người không quốc tịch bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu họ cư trú, làm ăn sinh sống ở Việt Nam và việc tuyên bố đó phải có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;

c) Tuyên bố công dân nước ngoài, người không quốc tịch mất tích, đã chết nếu họ có mặt ở Việt Nam tại thời điểm có những sự kiện xảy ra mà những sự kiện đó là căn cứ để tuyên bố một người mất tích, đã chết và việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;

d) Người nước ngoài yêu cầu Tòa án Việt Nam tuyên bố công dân Việt Nam mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;

đ) Công nhận tài sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ hoặc công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với bất động sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.

Ðiều 418. Không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Vụ việc dân sự đã được Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết theo đúng quy định về thẩm quyền xét xử do Bộ luật này quy định thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có những tình tiết mới khác làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài.

Ðiều 419. Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp đã có Tòa án nước ngoài giải quyết

1. Tòa án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và giữa nước có Tòa án ra bản án, quyết định dân sự đó và Việt Nam có ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của các bên.

2. Tòa án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Tòa án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đối với vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Chương XXXVI

Tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự

Ðiều 420. Nguyên tắc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự

1. Việc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự giữa Tòa án Việt Nam và Tòa án nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập, phù hợp với pháp luật Việt Nam.

2. Trong trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc tế có quy định về tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự thì việc tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự vẫn có thể được Tòa án Việt Nam chấp nhận trên nguyên tắc có đi có lại, nhưng không được trái với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

Ðiều 421. Thực hiện ủy thác tư pháp

1. Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài về việc tiến hành một số hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

2. Tòa án Việt Nam không chấp nhận thực hiện việc ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài, nếu:

a) Việc thực hiện ủy thác tư pháp xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam hoặc đe dọa đến an ninh của Việt Nam;

b) Việc thực hiện ủy thác tư pháp không thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam.

Ðiều 422. Thủ tục thực hiện việc ủy thác tư pháp

1. Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài hoặc Tòa án nước ngoài ủy thác tư pháp cho Tòa án Việt Nam phải làm thành văn bản và gửi qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau khi nhận được văn bản ủy thác tư pháp phải chuyển ngay cho Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài nhận văn bản ủy thác của Tòa án Việt Nam.

Ðiều 423. Văn bản ủy thác tư pháp

1. Văn bản ủy thác tư pháp phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm văn bản ủy thác tư pháp;

b) Tên, địa chỉ của Tòa án ủy thác tư pháp;

c) Tên, địa chỉ của Tòa án thực hiện ủy thác tư pháp;

d) Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức có liên quan đến ủy thác tư pháp;

đ) Nội dung công việc ủy thác;

e) Yêu cầu của Tòa án ủy thác.

2. Gửi kèm theo văn bản ủy thác là các giấy tờ, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện ủy thác, nếu có.

Ðiều 424. Công nhận những giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận

1. Những giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam được Tòa án Việt Nam công nhận nếu các giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.

2. Những giấy tờ, tài liệu được lập bằng tiếng nước ngoài phải được gửi cho Tòa án Việt Nam kèm theo bản dịch ra tiếng Việt đã được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Bộ luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ ........ thông qua

ngày ... tháng ... năm 2004.

Chủ tịch quốc hội

Nguyễn Văn An

Việt Báo
Comment :Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự
Ý kiến bạn đọc
Viết phản hồi
Bạn có thể gửi nhận xét, góp ý hay liên hệ về bài viết Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự bằng cách gửi thư điện tử tới Lien He Bao Viet Nam. Xin bao gồm tên bài viết Du thao Bo luat To tung dan su ở dạng tiếng Việt không dấu. Hoặc Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự ở dạng có dấu. Bài viết trong chuyên đề của chuyên mục An Ninh - Pháp Luật
Draft Civil Procedure Code
Ministry of Justice, Deputy Chief, Building Name, Chapter VII, the Deputy, Chapter III, Socialist Republic of Vietnam, Chief Justice Supreme People's Court, The Change The proceedings, the Supreme People's Procuracy High Energies civil actions, the Code of Civil Procedure, the decision of the court, who participate in the proceedings, legal benefits, the request, obligations, 4
Presenting the full text of the draft Civil Procedure Code of Planning consulted the people, the branches and levels on the draft Code, and outline suggests some issues to get attention input from the people. This draft will be submitted to the National Assembly for consideration, through at ...
Vợ chồng sắp cưới bị đánh: Triệu tập con Phó CT huyện
Vợ chồng sắp cưới bị đánh: Triệu tập con Phó CT huyện

Công an đã triệu tập con của một Phó Chủ tịch huyện Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) để tiến hành xác minh, làm rõ sự liên quan đến việc đôi vợ chồng trẻ sắp cưới bị nhóm côn đồ đánh nhập viện.

Án oan chấn động Ninh Bình: 27 năm cơ cực đòi công lý

Từ 1 doanh nhân thành đạt, 27 năm qua, người đàn ông này đã tán gia bại sản, vợ con tha phương cầu thực. Sau 17 năm ròng rã đi hầu kiện, ngày 14/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn đã về Hội trường xã Gia Lập nơi ông cư trú để “công khai xin lỗi ông Phạm Hồng Thái vì đã kết tội oan cho ông”. Thế nhưng, tới tận bây giờ, hơn 10 năm nữa lại trôi qua, công l

  • Thoi su 24h257 Can bo hon nguc nang Biang
    Thời sự 24h(25/7): Cán bộ hôn ngực nàng Biang

    Kẻ "gạ tình" người mẹ liên quan gì đến vụ cháu bé bị mất tích ở Long Biên?; Vụ xả thải: Bộ TNMT thông báo nóng với Formosa; Ông bố đập sữa trước cửa siêu thị: "Đã mua chịu lại còn kiếm chuyện"; Cán bộ hôn ngực nàng Biang: Xử lý đúng quy trình; Ngày con dâu bỏ đi, bố mẹ chồng khóc cạn nước mắt thương 5 cháu nhỏ

  • Thoi su 24h217 Cong ly nao cho nguoi vo mang noi dau tot cung
    Thời sự 24h(21/7): Công lý nào cho người vợ mang nỗi đau tột cùng

    Đình chỉ hay khen thưởng CSGT "giơ chân" cản người phạm luật?; Xót xa những vụ tự tử vì bệnh tật và tận cùng nghèo khó; "Rác thải Formosa tràn lan, trách nhiệm chính thuộc xã, phường"; Vụ cô gái bị chồng thiêu: Công lý nào cho người vợ đang mang nỗi đau tột cùng?; Mổ nhầm chân: chuyên môn yếu kém hay tắc trách?

  • Thoi su 24h197 Dung sung bat tre em cuop taxi
    Thời sự 24h(19/7): Dùng súng bắt trẻ em, cướp taxi

    Phía sau bản án tử của Vũ Văn Tiến: Con dại một lần, mẹ đau một đời; Hà Nội sẽ trồng cây phượng hoa màu tím, nở quanh năm; Mưa xô ngã cầu bêtông tiền tỷ: Quy trình trách nhiệm; Vụ chất thải Formosa: Doanh nghiệp nói khác Sở TNMT?; Chiếu laser Nội Bài: Phát hiện thủ phạm nhưng khó xử lý

  • Thoi su 24h187 Lo duong day gai goi chan dong showbiz
    Thời sự 24h(18/7): Lộ đường dây gái gọi chấn động showbiz

    Thực phẩm bẩn: Nghịch cảnh con người đang âm thầm giết hại nhau; Vụ chất thải Formosa: Thêm nhiều mâu thuẫn giật mình; Ân hận của người mẹ mỗi đứa con sinh ra của... một ông bố khác nhau; Bác sĩ ra chợ quyên tiền cứu bệnh nhi: Đời xấu xa sao cây táo nở hoa?; Cá hồ chết bốc mùi thối, cả khu phố bịt khẩu trang suốt ngày

  • Thoi su 24h147 Bi ban than cua bo hiep dam den mang thai
    Thời sự 24h(14/7): Bị bạn thân của bố hiếp dâm đến mang thai

    Formosa tự đổi công nghệ luyện cốc: Hành vi tội ác; Uất ức lời kể 5 ngư dân bị tàu TQ đâm chìm tàu ở Hoàng Sa; Nghi án mẹ ép con gái uống thuốc trừ sâu để cùng chết; Bàng hoàng phát hiện suốt 3 năm nuôi nhầm con của 1 gia đình ở cách nhà mình 5 km; Tiếp viên ở quán karaoke ăn mặc mát mẻ, ngồi trên đùi khách rót bia

  • Thoi su 24h137 Chong thieu song vo vi bi can nhan
    Thời sự 24h(13/7): Chồng thiêu sống vợ vì bị cằn nhằn

    Thực hư chuyện 'bố đi hát karaoke gặp đúng con gái làm dịch vụ'; "Bảo kê" xe cấp cứu: Bộ trưởng Y tế vào cuộc quá chậm?; Vụ chôn rác thải Formosa trong trang trại của Giám đốc: Có sai luật?; Tạm giữ nhóm "quái xế" cùng 20 chân dài mặc mát mẻ phục vụ karaoke; 10 năm, gần 60 ngàn tỷ đồng tham nhũng nhưng chỉ thu hồi được 4,6 ngàn tỷ

  • Thoi su 24h127 Vo bop cua quy khien chong chet tuc tuoi
    Thời sự 24h(12/7): Vợ bóp của quý khiến chồng chết tức tưởi

    Phạt 100 triệu phòng khám "mạo danh" Sở Y tế HN "chặt chém" khách; Xe cứu thương ngoại tỉnh phải “mua” bệnh nhân ở Hà Nội?; Formosa lén lút chôn chất thải ở trang trại của Giám đốc Công ty Môi trường; Gây bức xúc lớn, các dự án giao thông BOT được Quốc hội đưa vào giám sát; Vụ gần 400 GV ở Thanh Hóa mất việc: 50-100 triệu đồng chạy làm GV hợp đồng?

  • Thoi su 24h117 Co gai tre xinh dep tu vong ben ve duong
    Thời sự 24h(11/7): Cô gái trẻ xinh đẹp tử vong bên vệ đường

    Sự cố môi trường Formosa: Xác định hàm lượng độc tố dưới đáy biển; Thuê giúp việc 6 triệu/tháng, chủ nhà phẫn nộ vì em bé bị véo tai, ăn tát; Nhà máy làm chết cá đầu nguồn sông Đà không có khu xử lý nước thải; Từ vụ chặn xe cấp cứu: Bảo vệ bệnh viện hay lực lượng..."bảo kê"?; Dọa đuổi ông lão xuống xe, nhân viên xe buýt bị đình chỉ việc

  • Thoi su 24h087 Chu ho chem 2 chau tu vong
    Thời sự 24h(08/7): Chú họ chém 2 cháu tử vong

    Khách sạn giam khách: Quan ứng tiền giữ thể diện Cửa Lò; Treo biển cam kết "không khiêu dâm, kích dục": Nỗi khổ kép; Ai đã “đầu độc” tôm cá ở thượng nguồn sông Đà?; Sau vụ bảo vệ bệnh viện Nhi: Bộ Y tế chấn chỉnh việc vận chuyển người bệnh; Tiêm thuốc khiến bệnh nhân tử vong, bác sỹ bị... khiển trách

  • Nghin le chuyen tuan qua 1707 23072016
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua 17/07 - 23/07/2016

    Đau chân trái bác sĩ mổ nhầm chân phải; CSGT giơ chân, người đi xe máy lao dải phân cách; Cán bộ giao thông trách mắng người dân vì tự ý vá đường; Bé gái 4 tuổi mất tích bất ngờ, gia đình kêu gọi giúp đỡ ... là những tin tức xã hội nổi bật được dư luận quan tâm trong tuần qua.

  • Su kien quoc te noi bat 177237
    Sự kiện quốc tế nổi bật (17/7-23/7)

    Khủng bố trung tâm mua sắm ở Munich làm 10 người thiệt mạng; Samsung xin lỗi vì những clip mua dâm của chủ tịch Lee; Trump chính thức nhận đề cử tổng thống; Trung Quốc ngang ngược tuyên bố tiếp tục cải tạo tại Biển Đông là những tin chính trong tuần qua.

  • Ban tin Suc khoe tuan qua 177 237
    Bản tin Sức khỏe tuần qua (17/7- 23/7)

    Bị thương chân trái, mổ nhầm chân phải: BV Việt Đức nói gì; Hai bé sơ sinh dính liền ở Hà Giang đã mất; Siêu âm thai bình thường, sinh con bị dị tật: Bài học nào cho bố mẹ; Vợ thờ ơ với 'chuyện ấy', lí do là ở chồng;... là những thông tin Sức khỏe được quan tâm nhất tuần qua.

  • Tong Hop Doi Song Tuan Qua 170724072016
    Tổng Hợp Đời Sống Tuần Qua (17/07-24/07/2016)

    Hàng loạt những sản phẩm kém chất lượng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng được phát hiện . Bài toán chi tiêu gia đình, cùng những câu chuyện gia đình, vụ đánh ghen ầm ĩ làm ta giật mình trước lối sống ngày nay, là các thông tin nổi bật nhất tuần.

  • Toan canh kinh te tuan 1707 23072016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (17/07 - 23/07/2016)

    'Đại án' 9000 tỷ đồng tại Ngân hàng Xây dựng, lương của các sếp tập đoàn gần nửa tỷ đồng, giá xăng điều chỉnh giảm mạnh, vấn nạn cà phể bẩn, tăng trưởng tín dụng tiếp tục có con số mới ... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là những tin tức - sự kiện kinh tế nổi bật tuầ

  • Nghin le chuyen tuan qua 1007 16072016
    Nghìn lẻ chuyện tuần qua 10/07 - 16/07/2016

    Formosa chôn 100 tấn chất thải tại Hà Tĩnh; Ngư dân bàng hoàng kể tàu TQ tông chìm tàu cá ở Hoàng Sa; Cô giáo Sài Gòn bị tố tán tỉnh nam sinh lớp 8; 3 năm nuôi nhầm con của 1 gia đình ở cách nhà mình 5 km ... là những tin tức xã hội nổi bật được dư luận quan tâm trong tuần qua.

  • Su kien quoc te noi bat 107167
    Sự kiện quốc tế nổi bật (10/7-16/7)

    Toà PCA ra phán quyết Trung Quốc không có chủ quyền lịch sử ở Biển Đông; Tân Thủ tướng Anh Theresa May công bố danh sách nội các mới; Khủng bố đẫm máu đúng Quốc khánh Pháp; Đảo chính thất bại ở Thổ Nhĩ Kỳ... là những tin chính trong tuần qua.

  • Ban tin Suc khoe tuan qua 107 167
    Bản tin Sức khỏe tuần qua (10/7- 16/7)

    Ổ bệnh bạch hầu đang bùng phát mạnh tại Bình Phước; Bác sĩ ra chợ xin từ thiện cứu 2 bé song sinh dính liền; Cảm động câu chuyện về sản phụ ung thư phổi quyết giữ thai nhi; Mách bạn bài thuốc điều trị sẩy thai từ hàng trăm năm trước;... là những thông tin Sức khỏe được quan tâm nhất tuần qua.

  • Toan canh kinh te tuan 1007 16072016
    Toàn cảnh kinh tế tuần (10/07- 16/07/2016)

    Lại nóng chuyện huy động 500 tấn vàng trong dâm, lãi suất tiêu dùng lên tới 70-80%/năm, EVN chiếm hơn 1/3 tổng số nợ mà Chính phủ phải bảo lãnh, nhiều ngân hàng báo lãi khủng trong quý II, kiểm tra xử phạt hàng loạt công ty đa cấp... Cùng với những thông tin về tài chính- ngân hàng, bất động sản, thị trường tiêu dùng..là nhữ